Tình bạn thân thiết giữa 2 nhà thơ Trúc Thông và Hoàng Nhuận Cầm

Có một điều ít người biết, trong suốt nửa thế kỷ qua, nhà thơ Trúc Thông (1940-2021) và nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm (1952-2021) là hai người bạn thơ rất thân thiết, họ đều là sinh viên Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, và đều là dân phố cổ, nhà "bác Thông" ở phố Hồng Phúc còn nhà "chú Cầm" ở phố Hàng Bún, khá gần nhau.

Bài thơ tặng bạn trong những ngày Hà Nội đánh B52

Trong những năm chiến tranh, có nhiều bài thơ viết ở chiến trường, Hoàng Nhuận Cầm gửi thư về cho Trúc Thông, thậm chí cả thơ tình viết cho người yêu học cùng trường với Cầm. Còn Trúc Thông mỗi lần có thơ mới, đều nhắn Cầm sang nhà đọc cho nghe, đặc biệt có một bài thơ viết tay tặng Cầm năm chiến tranh 1973 hiện vẫn nằm trong di cảo, chưa hề được công bố.

anh_nha_tho_truc_thong-_anh_cua_viet_chien.jpg -0
Nhà thơ Trúc Thông (trái) và nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.

Điều rất tình cờ, trước khi diễn ra cuộc hội thảo, tọa đàm về hai cố nhà thơ Trúc Thông và Hoàng Nhuận Cầm do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức, tôi nhận được tin nhắn của chị Lương Xuân Thủy, một người bạn gái học cùng Khoa Văn Đại học Tổng hợp và chơi rất thân thiết với Hoàng Nhuận Cầm năm 1971 với nội dung: "Anh Việt Chiến ơi, nghe chị Nguyệt, vợ anh Trúc Thông nói sắp tới Hội Nhà văn Hà Nội có hội thảo về thơ Trúc Thông và Hoàng Nhuận Cầm, anh cho tôi nghe nhờ với nhé, cảm ơn anh". Tôi nhắn tin lại luôn: "Tôi chủ trì cuộc hội thảo này, xin mời chị đến dự tại trụ sở của Hội Nhà văn Hà Nội ở 19 Hàng Buồm".

Theo một nguồn tin, tôi biết chị Thủy hiện đang còn lưu giữ một số di cảo thơ chưa hề công bố của hai nhà thơ Trúc Thông và Hoàng Nhuận Cầm. Nên hôm dẫn chương trình hội thảo, tôi rất nóng lòng gặp chị Thủy để muốn tiếp cận các văn bản thơ di cảo này và công bố cho bạn đọc yêu thơ được biết. Nhưng rất tiếc hôm hội thảo, vì bận công chuyện nên chị Thủy không tới dự được.

Sau hội thảo, qua tiếp xúc, chị Lương Xuân Thủy cho tôi biết, những năm 1970 ấy, giữa Hoàng Nhuận Cầm và chị có tình cảm lãng mạn đầu đời rất trân trọng. Trước khi vào chiến trường, Cầm có đưa cho Thủy bài thơ viết tay của nhà thơ Trúc Thông tặng Cầm có tựa đề "Đoản khúc về em". Bài thơ này, khi mới viết xong, nhà thơ Trúc Thông đưa ngay cho Cầm, nên đây là bản thảo duy nhất, hiện chưa từng in trong bất kỳ tập thơ nào của nhà thơ Trúc Thông.

Sau này, chị Lương Xuân Thủy cho biết nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm cảm động suýt phát khóc vì không ngờ, sau mấy chục năm chị vẫn còn giữ được bản thảo này. Dưới đây là nguyên văn bài thơ  "Đoản khúc về em" Trúc Thông viết tặng Hoàng Nhuận Cầm, khi Cầm theo đơn vị cao xạ pháo về bảo vệ vùng trời Hà Nội những năm chiến tranh phá hoại ở miền Bắc: "Người yêu Hà Nội tận đáy lòng/ Không được ở lâu cùng Hà Nội/ Hà Nội hiểm nguy/ em lao về giữ bầu trời/ bom ngừng dội/ em đi ngay/ bom rền nặng những phương trời khác gọi/ Người con trai hai mươi mắt mở tròn mơ mộng/ yêu nàng thơ khắc nghiệt đắm say /xe pháo hành quân xóc lên xóc xuống/ những ngày đêm quần giặc mệt nhừ/ để em nói ra một ít lời dịu dàng/ một ít dòng mến thương sâu thẳm/ mà thở dài … lòng vẫn chưa ưng/ Phố Hàng Bạc. Ngôi nhà cổ sâu sâu/ đựng kỷ niệm không bao giờ vơi cạn/ như tấm lòng những người trong nhà ấy thương em/ như tấm lòng em thương trở lại/ ôi vòm trời che trên mái ấy/ che trên trái tim bạn bè vĩnh viễn lọt vào trái tim em/ vòm trời - chiếc - nón/ trên mái tóc lửng vai người bạn gái/ người có tâm hồn chưa sâu sắc bằng em/mà sao em búp cây ấp úng mãi trước nhà …/ Em hút thuốc lào xong/hai tay đặt lên đùi hệt bác nông dân/ quân phục mộc xanh/ chân ngăm đen dận dép cao su đen/ em là người lính của nhân dân lao động/ em ở phía bán cầu nghèo còn vô tận …/ Cha mẹ cứ nhìn em không chớp/mắt nhìn hạ xuống , vì trong bàn ăn em ngồi thấp/ em là niềm thương mến cuộn tròn lòng cha mẹ/ mà nhắc em , cả nhà mắt ngước cao …/ Em về dầm sương dãi gió chín ngày đêm/ Chín ngày đêm những người lính cao xạ và đạn chắn/bầu trời Hà Nội/ Khi người thường viết những lời thư đầy ám dụ kịp tới tìm em/ Thì cỏ ngụy trang ụ pháo in vào mắt cô lời tạm biệt1/1973".

Mấy kỷ niệm nhỏ với nhà thơ Trúc Thông và Hoàng Nhuận Cầm

Tôi có cái may mắn là chơi khá thân với cả hai anh. Một buổi tối gặp nhau, sau khi làm mấy chén rượu với lạc rang ở một quán trà chén vỉa hè, với vẻ mặt tỏ ra khá "nghiêm trọng", Hoàng Nhuận Cầm bảo tôi: "Anh với tôi đều tuổi Nhâm Thìn, Trúc Thông tuổi Canh Thìn hơn chúng ta đúng một giáp, tuổi Thìn mà làm thơ chắc khá hợp nhau và thân nhau. Tối nay ta phải sang chơi vì ông ấy vừa tuyên ngôn rằng Trúc Thông là một "con sói thơ" vĩ đại, và con sói thơ ấy đang nhằm vào thơ của Nguyễn Việt Chiến, thế thử hỏi có điên không chứ, hì hì?".

Tôi cười khơ khớ bảo Cầm: "Chuyện ấy chẳng có gì lạ, Trúc Thông vốn là người thơ cực đoan và cách tân mạnh mẽ trong thi ca. Trúc Thông đã từng đọc bản thảo mấy ki-lô-gam thơ và trường ca của tôi, hẹn sẽ có ý kiến và viết bài. Vậy bác ấy muốn ra roi, bảo ban gì đây? Và, ta cứ lắng nghe xem nhà thơ vĩ đại Trúc Thông muốn phán bảo điều gì, vì bác ấy là một con sói lớn, còn chúng ta là hai con sói trẻ, hehe!". Rồi chúng tôi đi bộ sang chơi nhà Trúc Thông ở phố Hồng Phúc gần đấy.

Đã có lần, trong một buổi gặp gỡ, nhà thơ Trúc Thông cười rất sảng khoái, bảo các nhà thơ trẻ: "Với mình, thi ca là một thứ Tôn giáo đặc biệt, "Con mắt thơ" của mình phải giống như một "con sói", thấy một tứ thơ mới, một câu thơ mới là phải vồ ngay, phải ngấu nghiến ngay, các cậu thấy mình có giống một con sói không?". Tối hôm ấy, với tất cả sự dè dặt, khiêm tốn, tôi và Cầm đến gặp nhà thơ Trúc Thông. Nhìn ông anh tươi tỉnh tráng ấm chén, pha trà tiếp đón hai đàn em thơ một cách khá cởi mở, tôi cười vui thưa chuyện: "Em nghe Cầm nói, con- sói- thơ vĩ đại là bác đang soi chiếu 'con mắt thơ' vào mấy ki-lô-gam thơ còn tồn đọng của em, đúng không ạ, vậy em xin cúi đầu, rửa tai lắng nghe những lời vàng ngọc của bác!".

Trúc Thông nháy mắt với Cầm, rồi nhìn tôi cười hể hả: "Thế thật ra Chiến không biết chuyện gì à? Thế Cầm chưa nói với Chiến về bài viết mình vừa đăng trên Báo Văn nghệ về thơ của cậu hay sao? Hai cậu chơi thân với nhau lắm mà sao Cầm còn giấu ư!". Lúc này. Cầm mới cười tươi nhìn tôi, dõng dạc nói: "Đấy là mình cố tình dành sự bất ngờ cho bạn, chiều nay tôi phải chạy tới nhà in lấy bản in thử của Báo Văn nghệ in bài viết của Trúc Thông về thơ cậu, ngày mai báo mới phát hành, còn bây giờ cậu hãy xem bản báo còn thơm phức mùi mực in đây nhé".

Nói xong Cầm rút luôn trang Báo Văn nghệ trong túi ra đọc sang sảng: "Con sói trẻ hãy lắng nghe bài viết của bác sói vĩ đại Trúc Thông trong bài phê bình "Song ý trước thơ Nguyễn Việt Chiến" qua tập thơ "Mưa lúc không giờ" - NXB Hội Nhà văn 1992, có những đoạn như sau: "Trước một bầu nhiệt năng thơ luôn táp vào người nghe và đọc, với một nghệ thuật vào loại chững chạc khoác áo thi đấu như Nguyễn Việt Chiến, mình cần chìm xuống, dương cao tai, lim dim như một con sói! Mặc cho những lớp sóng ngôn từ vỗ thúc cũng không phải ít khi thừa thãi, ta bỗng thấy hiện ra một khoảng trống vắng. Trống vắng, im ắng đến nỗi tác giả phải dóng thơ lên, lại phải tiếp ngay bài khác mong khỏa lấp. Trống im ấy chính là nỗi cô đơn ngay từ khi Chiến cầm bút và chắc chắn không bao giờ rời bỏ anh từ "Xéc văng tét trong đêm" được viết hai mươi năm trước "Anh lết qua bao rừng rậm ưu phiền" đến "Ngọn gió màu lam"- "Chỉ còn trăng với anh là hai kẻ xuống tàu". Rồi "Chia tay mùa thu" mới đây: "Sau khoảnh khắc chỉ còn ta ở lại/ Trên vai mình gió lạnh suốt mùa đông". Nhiều bài, khổ thơ trong tập cho ta biết đâu chỉ có buồn tình yêu, thân phận, Nguyễn Việt Chiến còn mang nhiều nỗi buồn xã hội sâu nhức, đã dồn anh đến cô đơn. Một cô đơn cứng cỏi, nhìn thẳng vào đau khổ. Một nguồn nghị lực dai dẳng cháy. Và lại yêu, lại giận dữ lại khát vọng. Chiến rất thi sĩ chính ở chỗ đó…".

Tôi lặng người nghe Cầm đọc bài viết và cảm ơn nhà thơ Trúc Thông đang nhìn tôi khá trìu mến, với ánh mắt hiền lành của một bác sói cũng không kém phần cô đơn trong thi ca cách tân. Tôi lại nhớ đến cuộc thi thơ toàn quốc mở đầu thời kỳ đổi mới của Báo Văn nghệ 1989-1990, hôm báo chuẩn bị công bố tên tác giả đoạt giải, Hoàng Nhuận Cầm đã cất công đến tận nhà in lấy bản in thử của Báo Văn nghệ, rồi hớt hải đạp xe mang báo về cho tôi, lúc gặp nhau, Cầm hét vang rất đỗi tự hào: "Đoạt giải cao rồi Chiến ơi, giải nhì với bài thơ "Mưa phố vào tranh" đây nhé!".

Tôi xúc động nhìn bạn mới phát hiện ra, Cầm vội đạp xe, chân quệt mạnh vào vỉa hè, móng chân cái bung toác ra, máu thấm đẫm, tôi vội lấy bông băng cuốn lại ngón chân cho bạn. Thật lạ, sau này, mỗi lần thơ tôi in trên các báo, Cầm đều là người đầu tiên báo tin và mang báo đến cho tôi. Giờ thì hai nhà thơ Trúc Thông và Hoàng Nhuận Cầm đều đã đi về thế giới của người hiền nhưng những kỷ niệm thân thương về họ vẫn luôn sống trong lòng bè bạn và người yêu thơ.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.