Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Không chỉ là làn điệu dân ca, hò khoan lệ Thủy còn là ký ức văn hóa, là tiếng gọi quê nhà, là nơi người dân xứ Lệ gửi gắm nỗi niềm, gửi cả tình yêu lao động, yêu cuộc sống. Mỗi độ xuân về, trong tiếng trống hội rộn rã, lời hò khoan lại cất lên, ngân dài như giữ chân người ở lại với những giá trị bền lâu của quê hương.

Làn điệu sinh ra từ phù sa sông Kiến Giang

Hò khoan Lệ Thủy với những câu hò, điệu ví, làn dân ca mộc mạc không chỉ là âm thanh của lao động mà còn là tiếng lòng, là hơi thở của con người gắn bó với quê hương, sông nước. Những làn điệu của Hò khoan Lệ Thủy nổi bật như một biểu tượng văn hóa đặc trưng, đậm đà bản sắc của người Quảng Trị mộc mạc, nghĩa tình mà sâu lắng đến nao lòng.

1.jpg -0
Một tiết mục của Câu lạc bộ Nghệ nhân Hò khoan Lệ Thủy.

Theo các nhà nghiên cứu, Hò khoan Lệ Thủy ra đời khoảng thế kỷ XV, trên vùng đất Lệ Thủy trù phú. Ban đầu, đó chỉ là những câu hát ứng khẩu của người dân khi lao động, khi chèo thuyền, giã gạo, đập lúa, hay đơn giản là để gọi nhau trong đêm trăng trên bến nước. Từ thế kỷ XVI, khi con sông Kiến Giang hiện hữu và trở thành huyết mạch của vùng, hình thức diễn xướng ấy mới chính thức được gọi tên là hò khoan, nghĩa là "hò cho khoan khoái", hò để nhẹ nhọc đi, để tinh thần con người hòa cùng nhịp sông nước.

Với nhạc cụ đơn giản nên hò khoan diễn ra phong phú mọi lúc, mọi nơi, trong những ngày lễ hội của làng, trong bơi đua thuyền truyền thống trên sông. Hò ở sân đình, ở rạp thì có trống đại, trống chầu. Nơi đông người mà không có chuẩn bị trước thi đôi tay vỗ vào nhau nhịp nhàng đúng nhịp tạo ra âm thanh hấp dẫn làm nền cho câu hò vừa hay, vừa nhộn làm cho người hò, người nghe thú vị, sảng khoái. Hò khoan là sự giai điệu hóa của những vần thơ dân gian, do chính người lao động sáng tác trong quá trình sản xuất. Câu hát vừa là lời động viên nhau vượt khó, vừa là sự bộc bạch tâm tình. Chính vì vậy, giai điệu hò khoan gần gũi, dung dị, dễ thấm vào lòng người như hơi thở đồng quê. Điểm đặc biệt là hò khoan Lệ Thủy chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các làn điệu dân ca vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, song vẫn mang phong cách riêng: dẻo dai, mộc mạc, thấm đẫm chất miền Trung.

Cái "chất" ấy không nằm ở giai điệu cầu kỳ mà ở ngôn ngữ biểu đạt, nơi từng nhịp hò, câu hát như được cất lên bằng cả cơ thể, bằng tâm hồn. Ngày xưa, giữa đồng lúa mênh mông hay bến sông Kiến Giang lộng gió, người dân Lệ Thủy hát hò khoan như một lời tâm tình, tự sự, như thể hát để nghe chính mình, hát để nối nhịp tình người.

Hai nhóm hò khoan - hơi thở của đất và nước

Hò khoan Lệ Thủy đã được dân gian chắt lọc, trải qua bao nhiêu thăng trầm và biến cố nhưng chín mái hò khoan vẫn giữ đúng quy tắc, luật nghiêm ngặt không hề thay đổi. Chín mái hò khoan Lệ Thủy bao gồm: Lỉa trâu, Mái nhài (dài), Mái ruỗi, Mái chè, Mái nện, Mái ba, Mái xắp, Mái hò khơi và Mái hò Nậu xăm được chi phối bởi các yếu tố: tiết nhịp (có thể là 2/4, 4/4 hoặc nhịp tự do), tiết tấu (nhanh, chậm, tùy hoàn cảnh lao động, môi trường lĩnh xướng mà biến đổi linh hoạt) và luật (lĩnh xướng - xố - chầu riêng của từng mái hò).

Từ môi trường sống của cư dân Lệ Thủy nửa đồng bằng, nửa sông nước, Hò khoan Lệ Thủy chia thành hai nhóm chính: Hò cạn và Hò nước. Hò cạn thường vang lên trên những cánh đồng lúa, trong lúc giã gạo, đập lúa, hay dựng nhà, kéo gỗ. Cấu trúc của hò cạn đơn giản, từ 2 đến 4 câu, có vế xô đối đáp giữa người lĩnh xướng và tập thể. Nhịp hò chắc khỏe, dứt khoát, thể hiện tinh thần hăng say lao động. Dù chỉ dùng thang năm âm quen thuộc, hò cạn vẫn mang nét riêng: tiếng hò như lệnh thúc giục, như tiếng nhịp chày giã gạo, như hơi thở của đất, khỏe khoắn mà chan chứa nghĩa tình. Mỗi câu hò là một lời mời gọi, khích lệ nhau vượt qua nhọc nhằn, cùng hoàn thành công việc.

Khác với hò cạn, hò nước lại nhẹ nhàng, bay bổng hơn. Giai điệu của hò nước thường chậm rãi, uốn lượn, mang nhiều yếu tố tự sự và tâm tình. Người dân thường hò khi chèo thuyền, thả lưới, giữa không gian tĩnh lặng của sông nước. Câu hò khi ấy không chỉ để điều nhịp tay chèo mà còn như một cách giãi bày lòng mình: nhớ thương người xa, ngợi ca tình quê, hay tri ngộ giữa những phận đời.

Chính vì vậy, hò nước thường được diễn xướng đơn độc chỉ một người, giữa dòng sông vắng, nhưng tiếng hò lại vang xa, thấm vào lòng người nghe. Từ hai nhánh hò khoan ấy, người Lệ Thủy đã dệt nên một bức tranh âm nhạc dân gian đa sắc, vừa rộn ràng của lao động, vừa sâu lắng của tâm hồn.

Từ nhịp sống đến di sản

Từ bao đời, Hò khoan Lệ Thủy được thể hiện chủ yếu qua hai hình thức: lĩnh xướng (hò cá nhân) và hội xướng (hò tập thể). Trong lĩnh xướng, một người sẽ cất tiếng hò mở đầu, có khi hát hết câu chuyện, có khi chỉ "dẫn giọng" để tập thể đáp lại. Cách hò này mang tính ứng khẩu, tự nhiên, thể hiện khả năng sáng tạo và trí tuệ của người dân.

3.jpg -1
Lễ hội đón bằng công nhận Hò khoan Lệ Thủy là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2017.

Còn hội xướng (hò tập thể) lại mang không khí vui tươi, sôi nổi. Sau những buổi lao động vất vả, họ tụ tập bên sân đình, bến nước, cùng nhau cất lên câu hò. Mỗi người lĩnh xướng, người khác đối đáp, nối tiếp nhau như những sợi dây âm thanh không đứt đoạn. Có khi, tiếng hò còn hòa lẫn tiếng chày giã gạo, tiếng cười rộn rã suốt đêm, tạo nên một không gian văn hóa cộng đồng đậm tình làng nghĩa xóm.

Không chỉ là sản phẩm tinh thần của đời sống lao động, Hò khoan Lệ Thủy còn mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc. Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, giai điệu hò khoan đã vượt ra khỏi khuôn khổ dân ca để trở thành tiếng hát của lòng yêu nước.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nhiều câu hò khoan vang lên giữa tiếng bom đạn, mang thông điệp cổ vũ tinh thần chiến đấu. Những giai điệu mộc mạc ấy trở thành "tiếng hát át tiếng bom", khích lệ quân dân Quảng Trị kiên cường vượt qua gian khổ.

Các bài hò như "Bình Trị Thiên khói lửa" đã phản ánh chân thực tinh thần chiến đấu của người dân miền Trung, đồng thời khơi dậy niềm tin, ý chí quật cường, tinh thần "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Hò khoan, từ đó, không chỉ là lời ca dao dân gian mà đã hóa thân thành âm thanh của lịch sử, của một thời "gian khổ mà anh hùng".

Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Lý (Chủ nhiệm Câu lạc bộ Nghệ nhân Hò khoan Lệ Thủy) chia sẻ: "Thời gian qua, Hò khoan Lệ Thủy không chỉ được tham gia các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng, trao truyền và kết nối di sản mà còn góp phần tiếp sức cho phát triển du lịch địa phương. Nhờ đó, giá trị văn hóa của hò khoan được gìn giữ, phát huy và ngày càng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng, xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc".

Năm 2017, Hò khoan Lệ Thủy được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, một niềm tự hào lớn của vùng đất Quảng Trị. Tuy nhiên, trong dòng chảy đời sống hiện đại, cùng với quá trình đô thị hóa và sự phát triển của công nghệ, những câu hò khoan xưa đang dần lùi vào ký ức và chỉ còn ngân lên trong các lễ hội hay chương trình dân gian. Bởi vậy, việc gìn giữ và truyền dạy Hò khoan Lệ Thủy không chỉ là trách nhiệm của người dân Quảng Trị mà còn là bổn phận chung của những ai yêu văn hóa dân tộc.

Nguyễn Thành

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...