Tiếng đàn cứu rỗi

Những người yêu thích cây đàn ghita hẳn nhiều người biết đến NSƯT Văn Vượng, trước hết bởi tiếng đàn của ông rất truyền cảm, có sức lay động lòng người. Thêm nữa ông bị khiếm thị từ năm lên 4 tuổi sau khi bị bệnh đậu mùa rất nặng.

Năm 1942, tại Hải Dương, Văn Vượng cất tiếng khóc chào đời. Vốn yêu thích âm nhạc, đến năm 13 tuổi, cậu tìm đến cây đàn ghita, tự mò mẫm đánh được một số bài. Và năm 26 tuổi, lên Hà Nội sinh sống sau khi người mẹ qua đời. Văn Vượng hy vọng lên thủ đô sẽ có nhiều cơ hội học hơn là ở quê. Ông không theo học bất cứ người thầy nào cụ thể mà chỉ tự học bằng việc nghe nhiều người khác đã nổi tiếng đánh đàn. Ông nhờ bạn bè tìm tài liệu, giáo trình rồi dịch sang chữ nổi để nghiên cứu.

Để tiếng đàn có hồn, thuyết phục được những người nghe khó tính nhất thì ông đã "bật mí" rằng đó là nhờ những bóng hồng đã đi qua cuộc đời mình. Những kỷ niệm này phần lớn đều đơn phương từ phía ông. Nhưng đều để lại cho ông những ca khúc đượm buồn và những tiếng đàn giàu sức biểu cảm, mỗi khi vang lên cứ xoáy vào lòng người nghe. Dẫu sáng tác ca khúc không phải là thế mạnh và hoạt động này của ông không để lại nhiều dấu ấn nhưng có thể nói đã là một sự đam mê để ông có thể vượt qua những chuỗi ngày khó khăn nhất của cuộc đời.

3.jpg -0

 NSƯT Văn Vượng. 

Mối tình đầu tiên của Văn Vượng là với một cô bạn hàng xóm cùng tuổi có tên Võ Thanh khi chàng nghệ sỹ khiếm thị còn ở Hải Dương. Hai người quen biết nhau từ nhỏ. Văn Vượng thường xuyên đệm đàn cho Thanh hát. Khi biết hai người nảy nở tình yêu, gia đình cô gái ra sức ngăn cấm. Và Thanh đã không cưỡng lại được sự quyết liệt của cha mẹ, đành lên xe hoa về nhà người khác. Sự việc này đã khía vào trái tim nghệ sỹ mù một vết đau nhức mà mãi về sau vẫn không thể lành. Chàng cứ lang thang bên bờ sông, thả hồn vào cõi vô định trống vắng và vô nghĩa. Và sau đó, vào ngày 4-5-1966, chàng viết nên ca khúc đầu tay trong đời "Hoàng hôn trên sông".

Nhưng cô Võ Thanh đoản mệnh. Sau khi về nhà chồng một thời gian ngắn, cô mắc bệnh nặng rồi qua đời lúc mới 26 tuổi. Một người bạn đã tặng Văn Vượng bức ảnh của cô. Chàng đã lồng ảnh vào khung kính, trân trọng để trên bàn. Suốt một thời gian dài, đêm nào chàng cũng mơ thấy nàng. Mối tình đầu của Văn Vượng quá ngắn ngủi. Có thể nói là ông chưa kịp nếm cái vị ngon ngọt đầy mê hoặc, cám dỗ của tình yêu thì đã phải vĩnh biệt người con gái đầu tiên đi ngang qua đời mình.

Mối tình thứ hai đến với Văn Vượng khá muộn, vào lúc ông đã gần 30 tuổi. Ngày mới lên Hà Nội ở cùng người chị ruột, công việc hàng ngày của ông là đánh đàn và dạy đàn. Có một nữ học trò đến học. Cô này có người chị gái vẫn đi cùng đến nghe ông thầy đứa em mình đánh đàn. Không nhìn thấy nên không biết cô chị nhan sắc thế nào nhưng nghe giọng nói của cô dịu ngọt nên Văn Vượng đã mê.

Nhưng lúc đầu, cô lạnh lùng, hờ hững. Càng thế, lửa tình của chàng nghệ sỹ mù càng bốc cao ngùn ngụt. Ông lao vào mối tình đơn phương như con thiêu thân. Cuối cùng đã đạt kết quả: Cô đã đến học đàn và chấp nhận tình yêu của người thầy khiếm thị. Mối tình kéo dài được 9 năm. Nhưng cuối cùng, giống như cô Võ Thanh ở Hải Dương, cô này cũng không cưỡng lại được sự từ chối của cha mẹ, cô đã lên xe hoa về nhà người khác. Mối tình tuyệt vọng này khiến ông viết được ca khúc "Đêm vắng".

Đó chỉ là hai trong nhiều mối tình của Văn Vượng. Còn rất nhiều "mảnh tình" khác không đếm xuể. Bởi chỉ nảy ra từ phía ông mà không hoặc ít được đối tượng đền đáp tương xứng. Rồi qua một thời gian ngắn cũng lụi tắt. Ông như có trái tim "quá khổ", nặng hơn mọi người bình thường, như là có khả năng chứa đựng rất nhiều người đẹp. Càng khao khát, càng không được đền đáp, nhưng như thế thì ông lại cho ra được nhiều tình ca, mặc dù phần lớn các ca khúc này mới chỉ như "nhật ký yêu" bằng âm nhạc. Còn đến khi ông được thỏa mãn thì sáng tác có vẻ như chững lại, nói chính xác hơn, vẫn viết ra nhưng có phần vơi cạn cảm xúc, không còn nồng nàn, cháy bỏng như trước.

van vuong va vo.jpg -0

 NSƯT Văn Vượng và vợ.

Bà Bùi Thị Minh Nguyệt - đương kim phu nhân của Văn Vượng - rất vui vẻ kể về chồng: "Bài hát về tình yêu cuối cùng trong đời liên quan đến một người cụ thể của anh Vượng là bài "Bầu trời trong tim anh" viết về em. Nhưng rất khách quan mà nói, em thấy không bằng những bài anh ấy viết trước đó, liên quan đến những cô khác. Người phụ nữ mặn mà, đôn hậu này là mối tình cuối cùng của Văn Vượng kết thúc có hậu, đã chốt lại cánh cửa trái tim quá rộng lớn của ông.

Năm 1982, sau nhiều mối tình dang dở đẩy người nghệ sỹ vào trạng thái cô đơn cực độ, có một cô sinh viên trường Y đến xin học đàn Văn Vượng. Tất nhiên là được ông vui vẻ chấp nhận ngay vì luôn ưu tiên nhận nữ trước, dù có chật kín thời gian nhưng vẫn cố thu xếp để tiếp nhận học sinh nữ. Nghe một giọng nữ dễ thương, nói năng, xử sự lịch sự, tỏ rõ con nhà gia giáo, trái tim Văn Vượng lại một lần nữa run rẩy, bồi hồi mặc dù ông đã trải qua nhiều cuộc tình không dẫn tới thành công do các cô trước đây đều không vượt qua được rào cản của cha mẹ.

Ông thấy mình như " con chim giật mình trước cành cây cong" nên chỉ cất giấu tình cảm trong lòng mà không dám biểu hiện ra bên ngoài như những lần trước. Nhưng cô sinh viên Y khoa thì rất thông minh, nhạy cảm đã nghe được nhịp đập trái tim ông thầy mình. Sau một thời gian học, bỗng một hôm, cô nói với Văn Vượng: "Em đến để nghe tiếng đàn của thầy thôi, chứ từ nay trở đi không học nữa". Thầy Vượng rất buồn, hỏi vì sao thì cô trả lời: "Vì đã có thầy đánh rồi, cần gì phải có em nữa. Trong nhà chỉ một người đánh thôi chứ".

Thì ra đó là câu cô học trò kín đáo phát ra tín hiệu là đã nhận lời yêu. Và cô đã vượt lên sự cấm đoán dữ dội của gia đình, chấp nhận lời cầu hôn của Văn Vượng. Gia đình cô gái chống đối đến mức nói rằng nếu cô cứ quyết lấy ông thầy mù thì sẽ cho người đến "phá" đám cưới. Vậy nên Văn Vượng đã phải nhờ hai học trò là công an hình sự đến phù rể cho mình để đề phòng mọi tình huống xấu nhất. Nhưng họ chỉ dọa chứ không hành sự. Về sau, ông được gia đình bên vợ rất quý, thương.

Cô sinh viên trường Y đó chính là người vợ hiện nay của Văn Vượng mà tôi đã nhắc tới ở trên. Bà thể hiện một người vợ thảo hiền, luôn tận tụy chăm sóc chồng bởi mấy năm nay, Văn Vượng bị tai biến, hai tay liệt, giọng nói bị ngọng, không còn đánh được đàn và mọi việc cần phải có người trợ giúp. Bà có mọi phẩm chất cao quý của những người vợ Việt Nam. Nhưng có riêng một điều mà không phải người vợ tốt nào cũng có được. Đó là sự cảm thông, rất hiểu cái chất "nghệ" của chồng.

Rất hài hước, bà nói: "Nếu cứ ghen với anh ấy thì ghen suốt đời. Thôi thì cũng phải thông cảm với cái tâm hồn đa cảm, luôn rung rinh trước các người đẹp của anh ấy". Hỏi "thông cảm" đến mức nào thì bà Nguyệt trả lời: "Ví như anh ấy có nắm tay, vuốt mái tóc nào đó tý chút thì cũng vô hại, miễn là đừng đi xa hơn…". Quả là một sự cảm thông không nhỏ của một người vợ có tình yêu lớn đến mức đã vượt qua tất cả để lấy người chồng khiếm thị hơn mình tới gần 20 tuổi ngay từ lúc đang là một cô sinh viên Y khoa trẻ trung với rất nhiều thế mạnh. 

Với một nghị lực phi thường và nhiều đóng góp đáng kể cho Hà Nội (chuyển soạn rất nhiều ca khúc về Hà Nội cho đàn ghita diễn tấu được công chúng mến mộ), năm 1997, Văn Vượng được phong tặng danh hiệu NSƯT. Và năm 2012, ông đoạt Giải thưởng Bùi Xuân Phái "Vì tình yêu Hà Nội".

Hiện tại, trên một căn gác nhỏ tại khu chung cư lắp ghép ở Nghĩa Tân, hàng ngày Văn Vượng cùng người vợ yêu thương đang sống những ngày bình yên, êm đềm trong tiếng đàn ghita của người nghệ sỹ mù vẫn vang lên từ những đĩa nhạc đã được thu thanh những năm trước, dìu họ vào một thế giới diệu huyền của âm nhạc…

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.