Thơ: "Viết như thế nào?"

Có một lần, tôi viết: với nhà thơ (và nhà văn nói chung) “viết cái gì” là hết sức quan trọng, nhưng “viết như thế nào” cũng quan trọng không kém, nhiều khi còn quan trọng hơn...

Thật vậy. Đã có bao nhiêu thơ viết về nỗi sốt ruột của sự đợi chờ, nhất là đợi chờ người mình vô cùng yêu mến? Nhưng đã có ai viết như cách nói của nhà thơ dân gian, tác giả những câu ca dao này:

Đêm nằm lưng chẳng đụng giường
Mong cho chóng sáng ra đường gặp em...

Chắc không một ai... ngớ ngẩn kêu lên: Nói khoác! “Lưng chẳng đụng giường” thì nằm trên... không khí à?

Lại cũng ca dao, đã có anh chàng nào ghen tuông được như nhà thơ dân gian, tác giả những câu ca dao ghen tuông một cách tế nhị thế này:

Cổ tay em vừa trắng vừa tròn
Để cho ai gối đã mòn một bên?

Chắc không một ai... ngớ ngẩn kêu lên: Nói khoác! Cổ tay mà mòn thì cổ tay ấy là gỗ, là đá à?

Ở đây, ta lưu ý một thủ pháp nghệ thuật trong thơ ca: thậm xưng (nói quá lên, nói phóng đại).

Từ trái qua: Các nhà thơ Nguyễn Trãi, Rabindranath Tagore, Rasul Gamzatov.
Từ trái qua: Các nhà thơ Nguyễn Trãi, Rabindranath Tagore, Rasul Gamzatov.

Lại như trước cảnh tượng (có thể là liên quan ít nhiều đến việc trọng nam khinh nữ) tác giả những câu ca dao này thật đáo để:

Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn
Chính chuyên cũng chẳng sơn son mà thờ!

Chưa biết thật chính xác tác giả những câu ấy là gái hay trai, nhưng ta biết cái “chẳng mòn” với cái “chẳng sơn son mà thờ” là một, và nó là... cái gì.

Lại đã có bao nhiêu nhà thơ viết về chuyện... yêu đương, mà đã có ai hóm hỉnh được như tác giả những câu ca dao này:

Lấy anh từ thuở mười lăm,
Anh chê tôi bé, chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất, anh lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba...

Không chừng, cùng với cách nói hóm hỉnh, những câu ca dao này còn có cái công chống tệ tảo hôn ngày trước (mà không chỉ ngày trước) nữa cũng nên!

Bất giác, lại nhớ các nhà thơ cổ điển, mà mấy câu đến trí nhớ tôi trước hết là những câu này của nhà thơ Nguyễn Trãi:

Non cao, non thấp: mây thuộc,
Cây cứng, cây mềm: gió hay.

Chỉ có mây mới biết hết được núi nào cao, núi nào thấp. Chỉ có gió (khi nổi giông, nổi bão lên) mới biết cây nào vững, cây nào nghiêng, cây nào đổ.

Đây không phải những câu thơ bình thường, dễ viết. Phải xuất phát từ sự từng trải, sự chiêm nghiệm của cả một đời. Và ngoài nghĩa đen, nghĩa thông thường, chúng còn mang được cả một triết lý sâu sắc, thâm thúy...

Các cụ nhà ta: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu... ngày xưa, và các nhà thơ hiện đại của chúng ta đều có nhiều cách viết riêng về những chuyện, những đề tài, những chủ đề xưa nay những nhà thơ khác đã viết.

Lại nghĩ đến mây nhà thơ trứ danh nước ngoài. Nhà thơ M.Xôrexcu (Rumani) có một cách ghen trong một bài thơ (không đề) mà bao nhiêu thơ ghen tuông cổ kim, đông tây không thấy có:

Trong ý nghĩ của anh
Em thủy chung mãi mãi,
Em vẫn phải vây quanh
Bằng hàng rào vững chãi.

Cái hàng rào cao lắm
Tuy chỉ vừa đủ cao
Cho không khí bốn phía
Từ ngoài chẳng lọt vào.

Cọc rào thì nhọn hoắt,
Cắm ở khắp mọi nơi
Cắm vào đầu những kẻ
Dám yêu người yêu tôi

                                Hồng Diệu dịch (từ một bản tiếng Nga)

R.Tagor (Ấn Độ) thì có một cách yêu và một cách tự đề cao thơ mình mà không ai cảm thấy khó chịu, tôi tin như thế, trong bài thơ (không đề) này của nhà thơ:

Rồi một thế kỷ nào đó
Em xinh đẹp sẽ ra đời
Xin em thứ lỗi cho tôi
Vì tôi rất là kiêu hãnh
Tôi vẽ em bằng tưởng tượng:
Em đọc thơ tôi trong đêm
Trăng soi dòng chữ lặng im...

Tôi thấy tim em rạo rực
Tôi nghe tiếng em thầm thì:
Nếu mà Tagor còn sống
Gặp ta hẳn phải mê si!

Và rồi em sẽ tự nhủ:
Đêm nay ta thức dưới hiên
Biết chắc nhà thơ không đến
Đợi chờ - ta vẫn thắp đèn

                                Hồng Diệu dịch (từ một bản tiếng Nga)

Không thể không nói đến việc viết về lòng yêu nước, về tình yêu Tổ quốc là thứ tình cảm thiêng liêng mà ai cũng phải mang trong mình. Đã có bao nhiêu thơ, bao nhiêu văn đề cập chuyện này?

Có lẽ, nhiều người còn nhớ một đoạn văn giàu chất thơ của nhà văn Nga I. Êrenbua, trích từ bài báo “Thử lửa” viết năm 1942 của ông:

“Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu con phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, yêu mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh...

Dòng suối đổ vào sông, dòng sông đổ vào đại trường giang Vonga, con sông Von ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

Không biết, nhà thơ Xuân Diệu, khi viết những dòng thơ đầu bài “Nguyễn Văn Trỗi” (1964) có nghĩ đến những dòng trên của nhà văn I. Êrenbua:

Tình yêu Tổ quốc là đỉnh núi, bờ sông
Những lúc tột cùng, là dòng huyết chảy

Tuy nhiên, cùng đề cập chủ để trên như I. Êrenbua và Xuân Diệu, tôi thích thú đặc biệt hơn, là giọng điệu một bài thơ của nhà thơ R.Gamdatốp xứ Đaghextan (Liên bang Nga) - một nhà thơ miền núi mà đặc biệt thông minh, mới lạ. Bài thơ vừa giản dị, vừa độc đáo, vừa bất ngờ và lý thú này xuất phát từ một cách nghĩ không giống bất cứ một nhà thơ nào khác:

Bài hát của chim họa mi
Bạn có nghe bài hát của chim họa mi?
Niềm hân hoan ngân vang trong đó.
Chim hát những gì
Ôi, nào ai rõ!

Tôi thì tôi nghĩ
Họa mi đang ngợi ca Tổ quốc.
Bởi vì
Nếu là bài hát khác
Chắc họa mi chán đã từ lâu!

                                Hồng Diệu dịch (từ một bản tiếng Nga)

Người đọc thường thì chỉ thích, chỉ nhớ những câu thơ, những bài thơ có cách viết, cách nói lạ, giản dị, không lặp lại của ai, để làm nổi bật lên một ý tứ hoặc là mới, hoặc là có thể đã đọc, đã nghe ở đâu, nhưng không thấy viết, thấy nói theo cách đó.

Tôi cho đấy không thể là không là “trách nhiệm” của mỗi người làm thơ.

Hồng Diệu

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.