Thi sĩ Thanh Tùng: “Thời hoa đỏ” vẫn còn đó

Nếu trong tình yêu, Thanh Tùng từng buồn vì “không đi hết những ngày đắm say”, thì trong thơ, không thế. Ông vẫn tiếp tục “đi hết những ngày đắm say” trong thơ. Như thế cũng có nghĩa, trong thơ, “thời hoa đỏ” của Thanh Tùng vẫn còn đó...

1. Cuộc đời của thi sĩ Thanh Tùng không mấy yên ả, nếu như không muốn nói là đầy xáo trộn và quăng quật. Trước hết là hoàn cảnh gia đình: Em trai mắc bệnh thần kinh phân liệt, cha và mẹ ly hôn từ rất sớm… Bản thân phải làm đủ nghề để bám đuổi cái sự mưu sinh: Thanh niên xung phong, giáo viên dạy thể dục và dạy toán, cửu vạn, thợ sắt, nhân viên áp tải vận chuyển hàng hóa cả đường bộ và đường thủy… Vì thế mà không có điều kiện tiếp tục theo học đại học. Ngay cả hạnh phúc lứa đôi, cũng đầy trắc trở, đứt quãng.

Nhìn lại một thời, ông tự nhận mình là một thợ sắt có nghề, thuộc diện “đầu cu li đít thợ”, rồi ông thở dài: “Đã thế, bao nhiêu trầm luân lại như giáng cả lên đầu tôi, có lúc khiến tôi có cảm giác như mình đang bị rơi xuống đáy”.

Còn về thơ, ông nhắc đến một vài kỷ niệm nhớ đời: “Vào khoảng 1950 - 1951, sau khi cha mẹ tôi chia tay, tôi dồn nhớ thương mà viết bài thơ đầu tay mang tên “Tựu trường”. Bài thơ này được đăng trên Báo Tia sáng do ông Hiền Nhân là chủ nhiệm năm 1951. Đấy là nguyên cớ đầu tiên để tôi đến với thơ. Còn toàn thể bài thơ cụ thể thế nào thì tôi không còn nhớ. Dầu gì thì cũng đã 65 - 66 năm trôi qua.

Vào khoảng năm 1976 - 1977, bài thơ “Thời hoa đỏ” và hai bài thơ của tôi được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội nhờ sự quan tâm đặc biệt của nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh và nhà thơ Vũ Cao. Không như bây giờ, ngày ấy mà “Thời hoa đỏ” lọt qua các khâu biên tập và duyệt để được lên mặt báo là khó khăn lắm.

Dễ hiểu vì nó có những câu đụng đến sự mất mát, đổ vỡ. Mà ngày ấy, tâm lý chung là rất ngại. Tôi đã sốt ruột và hồi hộp chờ đợi cho đến khi báo ra. Không ngờ cuối cùng không chỉ “an toàn”, mà còn “có hậu”. Kết cục, chùm thơ được Văn nghệ Quân đội trao tặng thưởng thơ hay trong năm.

Ngày ấy, nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh vì thơ, hết lòng vì thơ lắm. Chính vì thế mà anh hay đi tầm thơ, xin thơ của nhiều anh em bè bạn. Anh cũng thường tìm mọi cách lách qua cửa hẹp để “ti pô hóa” những bài thơ được coi là khó sử dụng và dễ đụng chạm.

Sau đó, “Thời hoa đỏ” được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc: Mỗi mùa hoa đỏ về/  Hoa như mưa rơi rơi…/  Trong câu thơ của em, anh không có mặt/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say...

Nhiều bạn đọc cứ nghĩ tôi ở Hải Phòng và Hải Phòng có nhiều hoa phượng nên cứ nghĩ là bài này viết về thành phố Cảng. Kỳ thực, bài này tôi viết về người vợ quá cố của mình, bà tên Nhàn. Lúc ấy, Nguyễn Đình Bảng đang theo học ở Học viện Traicốpxki (Liên Xô cũ). Khi em dâu tôi báo tin và mang về cho tôi một đĩa hát có bài hát ấy thì tôi vẫn sấp mặt xuống đất mà quai búa, không biết bầu trời trên đầu mình màu xanh hay màu vàng”.

Thật là “môn đăng hộ đối” – Tôi nhận xét.

Thanh Tùng phản ứng ngay: “Là ý ông định nói về lời và nhạc của ca khúc ấy chứ gì? Phải nói là rất “đôi lứa xứng đôi”, mới phải. Nói thế cho nó gần gũi hơn và Nam Cao hơn”.

2. Thanh Tùng có một đời sống vật chất khá ư là vất vả, thiếu thốn. Cho dù vào đường thơ đã lâu, nhưng phải đến năm 2001, tức là khi đã 66 tuổi, ông mới có đủ tiền để xuất bản tập thơ đầu tiên. Khi in “Thời hoa đỏ” (NXB Văn học, 2001), ông cho in “dồn toa” đến 124 bài trong một tập thơ chỉ có khoảng 100 trang.

Năm 2002, tập thơ này được trao tặng thưởng (bằng khen) cùng với nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm, còn nhà thơ Bằng Việt thì được trao giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn. Trước đó, ông mới có hai tập thơ in chung là “Con sông chảy từ lòng phố” và “Cửa sóng”. Ông bảo: “In thế cho nó tiết kiệm. Nhưng được như thế cũng là tốt rồi. Còn như ngày trước ấy à, làm gì có giấy tốt, giấy đẹp để làm thơ nữa kia chứ.

Cánh làm thơ ở Hải Phòng chúng tôi dạo ấy, toàn phác thảo thơ, chép thơ lên vỏ bao xi măng tận dụng thôi. Trường hợp may mắn có được tờ giấy nào tử tế, chúng tôi chỉ dành để chép những bài thơ mà mình yêu thích”.

Nói đến đây, ông như chợt nhớ ra một điều gì đấy: “Mà hồi bấy giờ, không có chuyện vừa đọc thơ vừa uống rượu, uống bia như bây giờ đâu. Thảng hoặc có lần được nghe thơ bạn hoặc được đọc thơ mình cho bạn nghe, mà được uống cà phê đá, đã mừng. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu sao ở miền Bắc nói chung và Hải Phòng nói riêng thời ấy, người ta toàn uống cà phê đá bằng cốc vại (cốc có dung tích ¼ lít)”.

Rồi ông trầm ngâm: “Thời xa xưa, người đọc và người viết đọc của người viết nhiều lắm. Có khi chỉ được đăng một chùm thơ trên Báo Văn nghệ, Tạp chí Tác phẩm mới hoặc một vài bài thơ trong các tập thơ “Sức mới”, “Hoa trăm miền”… đã được coi là người nổi tiếng.

Còn bây giờ, số nhà văn, nhà thơ đọc nhau, càng ngày càng ít. Có khá nhiều nhà thơ thường xuyên gặp gỡ nhau, chơi với nhau, nhưng cũng không biết bạn mình đã viết gì, có tác phẩm gì. Thời xa xưa, biên tập viên ở các báo, tạp chí văn, nhất là ở các nhà xuất bản, đa phần là nhà văn.

Nhiều người trong số đó đã có vai trò “bà đỡ” cho những đứa con tinh thần của nhà văn. Giờ thì hầu như không còn. Đa số biên tập viên chỉ có vai trò chỉnh sửa thuần túy, gọi là, không quan tâm và đặt chất lượng nghệ thuật lên hàng đầu nữa và có vẻ cũng không đủ năng lực và tự nâng cao năng lực để làm việc ấy”.

Liên hệ trước đây với ngày nay, Thanh Tùng nói: “Vào những năm 70, 80 của thế kỷ trước, “khí quyển văn chương” lạ lắm và sôi động lắm. Nó kích hoạt nhiều văn nghệ sĩ, hấp dẫn nhiều văn nghệ sĩ, kể cả nghiệp dư và chuyên nghiệp, khiến cho phong trào sáng tác văn chương như lúc nào cũng có những đợt sóng ngầm.

Chung mối quan tâm này, nhà thơ Vũ Từ Trang viết hẳn một cuốn sách thuộc dạng chân dung văn học mang tên “Phía sau con chữ” phản ánh “khí quyển văn chương” một thời qua các nhà thơ, nhà văn: Lưu Quang Vũ, Hoài Anh, Đào Cảng, Tạ Vũ, Đào Ngọc Vĩnh, Nguyễn Ngọc Liễn, Yên Đức, Nghiêm Đa Văn, Võ Văn Trực, Lê Bầu, Phạm Ngọc Cảnh, Mã Giang Lân, Hà Cận, Lữ Giang, Quang Dũng…trong đó có tôi đấy”.

3. Năm 2004, Thanh Tùng làm một cuộc chuyển đổi chỗ ở nhờ tấm lòng hiếu thảo của cô con gái Lan Hương. Nơi ở mới của ông là Sài Gòn. Ông bảo: “Do thiếu thốn quá, hoàn cảnh quá, nên tôi xin giải quyết chế độ một lần, như thế cũng có nghĩa: Về lâu, về dài, tôi không có lương hưu”. Ông đã bộc lộ hết mình việc này trong một trường ca có độ dài 500 – 600 câu mang tên “Hành phương Nam”.

Mười mấy năm gắn bó với vùng đất mới, ông thấy Sài Gòn là nơi thú vị và hấp dẫn. Ông bảo: “Sài Gòn tuy là thành phố công nghệ, là đất báo, nhưng lại là nơi nuôi nấng sự cách tân thơ và cũng là nơi tụ hợp nhiều nhà thơ đến từ nhiều địa phương khác nhau”.

Ông bảo: “Đã là thi sĩ thì không nên quá ràng buộc với vật chất. Thi sĩ chỉ cần được đối xử phóng khoáng và chỉ cần được người khác hiểu. Thi sĩ rất cần tự do và lấy tự do dâng hiến làm cứu cánh. Làm thơ chính là quá trình ngộ ra được vẻ đẹp vĩnh cửu của trời đất, của thiên nhiên và của con người một cách tự nhiên nhất. Cũng có lẽ vì thế mà tôi đặc biệt yêu thích thơ của Wuýtman và Apôline”. Và ông cảm nhận được ngay Sài Gòn như là phát hiện của riêng ông:

Gió tự do thổi rộng mặt đường
Nắng vắt ra từ những trái xoài thơm.

Đọc chùm thơ mới nhất của ông, gồm: “Sinh nhật”, “Trẻ em”, “Mùi xưa”, “Vũ điệu thơ”, “Tình yêu”… tôi càng nhận ra phẩm chất thi sĩ trong ông. Đó là sự trong suốt về mặt nhân bản từ sâu thẳm. Tôi sinh ra là để cho thơ/ Tôi hiểu thế từ khi còn thơ dại/ Ngày tôi ra đời gió chưa bị sước/ Mỗi bông hoa được nở hết mình/ Mùa thu được buồn/ Mùa xuân được hát/ Mùa hè òa vỡ nắng trinh nguyên; Chỉ bên các em tôi mới được yên bình/ Mắt tôi ngọt và tim tôi yên ả/ Đầu giường tôi không treo cái roi/ Vì da thịt các em mềm như nước mắt/ Trái tim tôi treo nơi đầu ngõ/ vọng vang chiều chiều chạng vạng gọi các em về với mùi cơm thơm của mẹ/ Không đứa trẻ nào không phải con tôi; Em yêu thay anh, chết cũng thay anh/ Em đã để lại nhiều đến thế/ Bây giờ anh đang là tỷ phú/ Tình yêu đầy ắp trong anh/ Anh biết yêu khi chẳng còn em nữa/ Xưa anh chỉ là trẻ nhỏ/ Tập đánh vần tình yêu… - đó là những câu thơ thật đáng nhớ của ông.

Ở vùng đất mới Sài Gòn, Thanh Tùng có nhiều bè bạn. Người ta quý, trân trọng  ông vì ông và vì thơ của ông. Ông hấp dẫn nhiều người vì có tài làm thơ ứng tác và lôi cuốn nhiều người bởi bản năng “mau nước mắt” chân thành nơi ông. Trong số người thân ông nhất là nhà thơ trẻ Lê Thiếu Nhơn. Có người bảo: Muốn biết Thanh Tùng đang ở đâu, muốn gặp Thanh Tùng ở chỗ nào, hãy gọi điện thoại cho Lê Thiếu Nhơn, chắc cũng không xa thực tế bao nhiêu.

Nếu trong tình yêu, Thanh Tùng từng buồn vì “không đi hết những ngày đắm say”, thì trong thơ, không thế. Ông vẫn tiếp tục “đi hết những ngày đắm say” trong thơ. Như thế cũng có nghĩa, trong thơ, “thời hoa đỏ” của Thanh Tùng vẫn còn đó. 

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.