Thi sĩ Nga Sergei Esenin với bài thơ đầy ám ảnh về “tình mẫu tử” của một con chó mẹ

Tôi từng đọc và thuộc nằm lòng từ nhiều năm trước một nhận xét lộng lẫy, rất giàu liên tưởng của văn hào Maksim Gorky về khả năng phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên Nga trong thơ Sergei Esenin (1895-1925): “Esenin không hẳn là một con người, mà là một thứ cơ quan của thiên nhiên được sáng tạo ra chỉ để làm thơ, để thể hiện nỗi buồn vô tận của ruộng đồng”.

Giờ đây, đọc lại Gorky (cuốn “Gorky bàn về văn học”, NXB Văn học, 1970), tôi thực sự bất ngờ khi nhận thấy, Gorky nảy ra ý tưởng trên chính là từ lần ông nghe (tại Berlin, năm 1922) chàng thi sĩ có vóc dáng thư sinh và gương mặt vào loại điển trai nhất trong số các thi sĩ Nga đọc bài thơ “Bài ca về con chó mẹ”.

Vâng, hôm ấy Esenin đọc thơ về… chó (chứ không phải về một vạt rừng bạch dương, một cánh đồng lúa mạch, một hồ nước thơ mộng nào đó - như ta thường nghĩ). Hãy nghe Gorky kể lại:

“Tôi yêu cầu anh đọc bài thơ nói về con chó mẹ bị người ta bắt mất bảy đứa con nhỏ đem trôi sông.

...

- Anh thích bài con chó thật à?

Tôi nói với anh rằng, theo ý tôi anh là người đầu tiên trong văn học Nga đã viết về loài vật một cách điêu luyện và với một tình yêu thương chân thành như vậy.

- Đúng, tôi rất yêu loài vật, con gì cũng thế - Esenin nói khẽ, giọng trầm ngâm.

Khi tôi hỏi xem anh có biết cuốn “Thiên đường của loài vật” của Claudel không, anh không đáp, chỉ đưa cả hai tay lên sờ sờ trên đầu rồi bắt đầu đọc “Bài ca về con chó”.  Và khi anh đọc hai câu cuối cùng:

Mấy giọt nước mắt xót xa của con chó
Nhỏ xuống tuyết như những ngôi sao vàng
thì mắt anh cũng rưng rưng”

(bản dịch của Hoàng Minh).

Sinh thời, Sergei Esenin là người rất yêu các loài vật và có nhiều tác phẩm hay về chúng.
Sinh thời, Sergei Esenin là người rất yêu các loài vật và có nhiều tác phẩm hay về chúng.

Trong tay tôi hiện có hai bản dịch trọn vẹn “Bài ca về con chó mẹ”. Một bản dịch qua tiếng Nga của nhà thơ Trần Đăng Khoa và một bản dịch qua tiếng Pháp của nhà thơ Tế Hanh. Qua tham khảo các chuyên gia văn học Nga, tôi được biết bản dịch của nhà thơ Trần Đăng Khoa sát nghĩa hơn. Vậy xin giới thiệu ở đây:

Sáng ra trong chuồng hoen gỉ
Chó mẹ vừa sinh bầy con
Bảy chú chó hung mũm mĩm
Trên đống bao tải đã sờn.

Suốt ngày chó mẹ âu yếm
Lưỡi mềm chải mượt lông con
Và dưới bụng mẹ ấm áp
Từng dòng tuyết nhỏ đang tan.

Buổi tối khi bầy gà nhiếp
Ngủ yên trên những chiếc sào
Ông chủ lạnh lùng, cau có
Bỏ bầy chó nhỏ vào bao.

Chó mẹ chạy nhào trong tuyết
Cuống cuồng tất tả đuổi theo
Để nước dưới bao hào rãnh
Vẫn còn run rẩy hồi lâu.

Rồi nó lê mình trở lại
Mồ hôi ướt đẫm bên sườn
Mặt trăng nằm trên mái rạ
Tựa hồ một chú chó con.

Nó ngẩng nhìn vào trời thẳm
Rồi sủa gọi lên bầu không
Vành trăng mỏng manh bình thản
Lặn xuống đồi hoang ven đồng.

Rồi cứ âm thầm như lúc
Bị ai ném đá giễu cười
Nước mắt nó sa trên tuyết
Rực vàng từng giọt sao rơi...

Những người nuôi chó thấy con chó suốt đời quẩn quanh, gắn bó chia sẻ buồn vui với mình, hồ như họ quên bẵng cội nguồn của chúng, quên mất rằng bất cứ con chó nào cũng được sinh ra bởi một con chó mẹ.

Thứ nữa, cũng bởi những chú chó con đa phần đều bị tách đàn từ rất sớm, nên cái gọi là “tình mẫu tử” đối với chúng hầu như bị khuất lấp, hiếm có cơ hội thể hiện; thậm chí gần như là bị triệt tiêu (thế nên mới có chuyện, có những chú chó xả thân “quyết chiến” với chính đồng loại của mình để bảo vệ chủ). Nhưng đấy là nhìn ở một bình diện.

Trên một bình diện khác, tình mẫu tử ở loài chó - nhất là giữa chó mẹ với chó con sau sinh - cũng thắm thiết, ân tình, sâu nặng lắm. Không phải tự dưng mà các cụ nhà ta lại đưa ra nhận xét “dữ như chó đẻ”, với ý trong giai đoạn chó nằm ổ, phải hết sức đề phòng, tránh xa, vì nó rất quyết liệt, đến mức hung tợn trong việc bảo vệ đàn con. Bài thơ “Bài ca về con chó mẹ” của Esenin chính là một sự nhắc nhở về việc chúng ta cần tôn trọng tình mẫu tử thiêng liêng của loài vật, cụ thể ở đây là một con chó mẹ.

Bài thơ như một thước phim cho thấy các trạng huống cảm xúc của một con chó mẹ kể từ khi đàn con ra đời đến khi bị ông chủ cho vào bao mang đi. Cách biểu hiện cảm xúc của nó khiến trái tim người đọc như tan chảy.

Trời ạ, nỗi niềm con vật lúc vui lúc buồn có khác chi con người! Khi nó âu yếm, thể hiện tình mẹ, hình ảnh “Lưỡi mềm chải mượt lông con” đã quá ư xúc động rồi; đến khi bầy chó con bị bắt đi, cảnh nó “tất tả đuổi theo” còn tội nghiệp, xót xa hơn nữa: “Chó mẹ chạy nhào trong tuyết/ Cuống cuồng tất tả đuổi theo/ Để nước dưới bao hào rãnh/ Vẫn còn run rẩy hồi lâu”. Thực sự phải là nhà thơ với bao yêu thương, trìu mến, đồng cảm… mới có những quan sát kỹ càng, tinh tế về một loài vật và có cách thể hiện lay động trái tim người đến vậy.

Trong lịch sử thi ca thế giới, vầng trăng từng được các thi nhân ví với nhiều vật dụng, loài vật. Ở phương Đông, vầng trăng từng được ví với chú thỏ (gọi là Thỏ Ngọc). Vậy thì việc Esenin ví vầng trăng như chú chó con cũng không có gì là khiên cưỡng. Thậm chí, nó còn đẩy hiệu quả cảm xúc lên cao, nhất là sau cuộc “tất tả đuổi theo” ông chủ (nhằm giữ lại đàn con) bất thành, chó mẹ lê mình trở về trong sự mệt mỏi, buồn bã, hình ảnh “Vầng trăng nằm trên mái rạ/ Tựa hồ một chú chó con” thật không khi nào hợp với tâm trạng của chó mẹ như lúc này.

Và, chính hình ảnh chú chó con xuất hiện trên mái rạ ấy càng khiến chó mẹ nhớ con da diết, đến độ không kìm được, nó cứ ngẩng mặt nhìn vào trời thẳm mà sủa, mà tru… Có lẽ, chó mẹ ngỡ tưởng bầy con của mình đang bị người đời bắt mang đi và giấu đưa lên “trên” ấy.

Bốn câu kết bài càng khiến người đọc xúc động. Mặc cho người đời bỡn cợt, xem thường nỗi đau của chó mẹ (như cách xử sự thường thấy của con người với tất cả loài vật trên trái đất), chó mẹ âm thầm thể hiện nỗi đau đớn, thương nhớ bầy con của mình. Sự đồng cảm cao độ giữa con người với loài vật đã khiến Esenin viết nên những câu thơ mà ai đọc cũng phải rưng nước mắt:“Nước mắt nó sa trên tuyết/ Rực vàng từng giọt sao rơi”.

Từ bài thơ của Esenin, bất chợt tôi liên hệ tới một chuyện từng xảy ra với đàn chó ở nhà bố mẹ tôi. Tuổi hưu, bố mẹ tôi nuôi chó với mục đích vui cửa vui nhà, cũng vừa để cho đẻ, bán lấy tiền cải thiện sinh hoạt. Nhìn cảnh đàn chó con sau khi đã bắt đầu ăn được cơm, được để ra một chuồng riêng đặt ngoài vỉa hè cho người đi đường chọn mua, trong khi cái chuồng của chó mẹ đặt ở trong nhà, nhưng cũng gần đấy (chó mẹ chó con có thể nhìn thấy nhau), tôi rất… bứt rứt.

Tôi không hiểu tâm trạng của con chó mẹ sẽ thế nào trước việc những con chó con mà nó từng chăm bẵm, cho bú mớm cứ từng ngày từng ngày bị người ta đến vần vò “nâng lên đặt xuống”, sau rồi lần lượt… đem đi hết! Bản thân tôi, nhìn đàn chó con, cảnh mấy anh chị em bấu víu, nô đùa nhau, rồi bỗng chốc trơ ra, chỉ còn một con… mà không khỏi chạnh lòng.

Tôi nói với bố mẹ tôi đừng để con chó mẹ trông thấy cảnh ấy. Mẹ tôi rất có kinh nghiệm trong chuyện này. Bà bảo: “Để tạm đây rồi cho nó lên sân thượng. Chứ ở đây, trông thấy con, nó kêu suốt, sao chịu nổi!”..

Con chó mẹ sau được đưa lên sân thượng thật.

Một lần, mẹ tôi làm cỗ giỗ bà ngoại. Nhà chật, lại sát đường, để việc ăn uống được tập trung, tránh ánh nhìn của người qua kẻ lại, mẹ tôi lấy dây xích cột hẳn chiếc chuồng nhốt bầy chó con cần bán vào một trụ cửa rồi khép chiếc cửa sắt lại. Tôi vừa ăn vừa cao hứng trò chuyện với đám anh em, con cháu lâu ngày mới gặp, thi thoảng cũng bị phân tâm bởi tiếng chó con kêu eo óc ngoài cửa.

Một lát, bất chợt tôi nghe có tiếng động mạnh, như có cái gì rơi từ trên cao. Bà chị dâu tôi xăm xắn mở hé cửa bước ra xem chuyện gì. Tiếp đó là mẹ tôi, rồi anh trai tôi. Tôi thấy mọi người lao xao nói với nhau điều gì đó. Khi trở vào, gương mặt ai nấy không giấu được sự căng thẳng. “Có chuyện gì? Cái gì vừa rơi vậy?” - Tôi hỏi. Anh trai tôi gạt đi: “Không, chuyện ngoài đường nhà người ta ấy mà”.

Rồi anh cười, nâng ly rượu cụng với tôi, nhắc: “Chú tập trung vào… “chuyên môn” đi. Kệ thiên hạ, quan tâm làm gì”. Nghe anh nói vậy, tôi lại tiếp tục rổn rảng câu chuyện đang trong đà được khơi mạch...

Phải mãi mấy ngày sau vợ tôi mới cho tôi biết sự thật. Tôi nghe mà chết lặng! Thì ra, hôm ấy, con chó mà bố mẹ tôi nuôi để đẻ bị tai nạn chết. Cái chết thật tức tưởi. Nó rơi từ sân thượng xuống đường, ngay trước chuồng bầy chó con. Còn vì sao nó ''bị'' thế, thì theo mọi người phán đoán, trên sân thượng nhà bố mẹ tôi, chỗ mi đua ra phía đường là hàng lan can được gắn bằng những ống sứ có khoảng cách tương đối rộng, con chó có thể chui đầu lọt.

Bình thường thì nó cũng chẳng mon men ra đấy làm gì. Nó rất khôn, biết sợ độ cao. Nhưng hôm ấy, hẳn là nghe tiếng chó con từ dưới hè đường vọng lên. Thương con, nhớ con, nó bò ra mép lan can, cố nghển đầu nhìn xuống, rồi cứ thế, nó ngó nghiêng, sán dần, sán dần về phía có tiếng kêu, cứ thế, cứ thế… bất ngờ nó lọt qua lỗ hoa, rơi từ độ cao hơn chục mét xuống đất, chết thảm ngay trước mặt lũ chó con khi ấy như thể những cục bông đang lổm ngổm trèo lên người nhau, miệng nheo nhéo kêu gì không rõ.

Sở dĩ ai đó phân tích, phán đoán vậy là vì trước khi con chó mẹ bị rớt, có người nghe thấy tiếng nó sủa liên hồi, văng vẳng trên cao. Hẳn vì nó muốn ''đánh tiếng'' hay thể hiện sự lo lắng với bầy con. Còn tại sao hôm ấy không ai nói với tôi sự thật? Là vì mọi người biết tôi rất yêu chó. Cả nhà đều sợ khi biết chuyện, tôi sẽ “lớn tiếng” làm bữa ăn mất vui. Đã lâu, cả đại gia đình tôi mới có một cuộc sum vầy đông đủ như thế.

Phạm Khải

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.