Thi pháp trữ tình lãng mạn trong dòng thơ yêu nước 1945 - 1975

Nhìn lại dòng thơ cách mạng kháng chiến 1945-1975, ta thấy phẩm chất chủ đạo và nổi trội nhất là tinh thần yêu nước mang tính chiến đấu với những khúc tráng ca có tính sử thi nhằm động viên người người, lớp lớp xông ra chiến trường trong cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong bài viết này, tôi hướng đến một phẩm chất đặc biệt khác của dòng thơ này, đó là thi pháp trữ tình lãng mạn đã làm nên sức sống trường tồn của thi ca đương đại.

Theo tôi, chúng ta có thể thấy phẩm chất trữ tình lãng mạn của dòng thơ yêu nước 1945-1975 qua hai tác phẩm tiêu biểu theo thời gian, đó là bài thơ "Bên kia sông Đuống" của nhà thơ Hoàng Cầm viết tháng tháng 4/1948 ở chiến khu Việt Bắc và bài thơ "Đất nước đàn bầu" của nhà thơ Lưu Quang Vũ viết năm 1972. Giọng điệu chung của hai tác phẩm này là giọng điệu trữ tình lãng mạn, mang tinh thần yêu nước thương nòi và chia sẻ với những nỗi buồn đau, mất mát của con người và lên án chiến tranh xâm lược tàn khốc của kẻ thù đã xéo dày lên quê hương, đất nước Việt Nam. 

"Sông Đuống nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ"

Cố nhà thơ Hoàng Cầm tên khai sinh là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1922, quê Thuận Thành, Bắc Ninh, tham gia Việt Minh từ năm 1944; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007, ông qua đời năm 2010. Hoàng Cầm đã xuất bản gần hai chục tác phẩm, gồm: truyện ngắn, truyện vừa, thơ, kịch, thơ dịch, truyện thơ. Trong đó có các tập thơ nổi tiếng: "Bên kia sông Đuống", "Về Kinh Bắc", "Tiếng hát quan họ", "Lá diêu bông", "Mưa Thuận Thành", "Men đá vàng", "99 tình khúc"…

nhà thơ hoàng cầm 1.jpg -0
Nhà thơ Hoàng Cầm và nhà thơ Lưu Quang Vũ.

Có thể nói, với "Bên kia sông Đuống" của nhà thơ Hoàng Cầm, lần đầu tiên thi ca cách mạng Việt Nam đã dựng lên một bức tranh thấm đẫm tình quê hương, sông núi trong kháng chiến gian lao đã bị giặc Pháp tàn phá dập vùi trong bom đạn: "Em ơi! Buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lì/ Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ/ Xanh xanh bãi mía bờ dâu/ Ngô khoai biêng biếc/ Đứng bên này sông sao nhớ tiếc/ Sao xót xa như rụng bàn tay/ Bên kia sông Đuống/ Quê hương ta lúa nếp thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp/ Quê hương ta từ ngày khủng khiếp/ Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn/ Ruộng ta khô/ Nhà ta cháy/ Chó ngộ một đàn/ Lưỡi dài lê sắc máu/ Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang/ Mẹ con đàn lợn âm dương/ Chia lìa trăm ngả/ Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã/ Bây giờ tan tác về đâu?".

 Những câu thơ cháy bỏng cảm xúc nói trên với hình ảnh thân thương về miền quê Kinh Bắc, với hình tượng thơ lãng mạn trữ tình "Sông Đuống trôi đi/ một dòng lấp lánh/ nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ" của Hoàng Cầm đã làm nên một biểu tượng của cái đẹp vượt lên sự tàn khốc của chiến tranh trong thi ca đương đại.

Thơ trữ tình của Hoàng Cầm có một phong thái rất đặc biệt, chính cái men - văn - hóa vùng Kinh Bắc đã để cho thơ Hoàng Cầm làm say người đọc bằng một thứ rượu - thơ của một miền tinh hoa cổ kính: "Ai về bên kia sông Đuống/ Cho ta gửi tấm the đen/ Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên/ Những hội hè đình đám/ Trên núi Thiên Thai/ Trong chùa Bút Tháp/ Giữa huyện Lang Tài/ Gửi về may áo cho ai/ Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?/ Những nàng môi cắn chỉ quết trầu/ Những cụ già phơ phơ tóc trắng/ Những em sột soạt quần nâu/ Bây giờ đi đâu, về đâu?/ Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen/ Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng".

Sau khi dựng lên hình ảnh quê hương máu thịt gần gũi bị chiến tranh tàn phá như vậy, Hoàng Cầm đã khắc họa hình ảnh cuộc chiến đấu của những người con đi giành lại quê hương với những câu thơ rừng rực căm hờn: "Em ơi, đừng hát nữa lòng anh đau/ Mẹ ơi, đừng khóc nữa dạ con sầu/ Cánh đồng im phăng phắc/ Để con đi giết giặc/ Lấy máu nó rửa thù này/ Lấy súng nó cầm trong tay/ Mỗi đêm một lần mở hội/ Trong lòng con chim múa hoa cười/ Vì nắng sắp lên rồi/ Chân trời đã tỏ/ Sông Đuống cuồn cuộn trôi/ Để nó cuốn phăng ra bể/ Bao nhiêu đồn giặc tơi bời/ Bao nhiêu nước mắt/ Bao nhiêu mồ hôi/ Bao nhiêu bóng tối/ Bao nhiêu nỗi đời/ Bao giờ về bên kia sông Đuống/ Anh lại tìm em/ Em mặc yếm thắm/ Em thắt lụa hồng/ Em đi trẩy hội non sông/ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh".

Bài thơ "Bên kia sông Đuống" là một đỉnh cao của thơ ca kháng chiến khi lòng yêu nước được thể hiện từ những cảm xúc và hình ảnh chân thực thấm đẫm nét văn hóa của miền quê Kinh Bắc. Cái trục quê hương - văn hóa - con người với hình ảnh lãng mạn trữ tình đã xuyên suốt từ đầu bài thơ tới cuối bài thơ đã làm nên một tứ thơ độc đáo của phong cách thi ca Hoàng Cầm.

"Đất nước đàn bầu" - một vở sử thi lớn

Nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948-1988), với 6 tập thơ và hàng trăm bài thơ trong di cảo vừa được công bố, cho thấy tình yêu con người, cuộc sống và tình yêu đất nước là mạch nguồn chính của thi ca ông. Với hơn 50 tác phẩm sân khấu, Lưu Quang Vũ là một kịch tác gia xuất sắc của sân khấu đương đại Việt Nam. Không chỉ thế, trong thế hệ nhà thơ xuất hiện những năm 70 thế kỷ trước, Lưu Quang Vũ là một tài năng thơ bẩm sinh và kiệt xuất. Sau này khi trở thành một kịch tác gia nổi tiếng khắp nước thì khát vọng sáng tạo lớn của ông vẫn là thi ca. Ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật.

Trong những bài thơ lớn của ông, tôi nói về "Đất nước đàn bầu" như một vở sử thi lớn của Lưu Quang Vũ. Ông viết bài thơ này năm 1972, và sau đó đã được trao Giải thưởng Thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Với mỹ cảm lãng mạn, bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh sinh động, hoang dã, lộng lẫy và hào sảng về lịch sử dân tộc Việt từ thuở sơ khai: "Đi dọc một triền sông/ Những chiếc trống đồng vùi trong cát/ Những mảnh bình vỡ nát/ Những mũi tên lăn lóc/ Khắp núi đồi hoang vu/ Những rìu đá cổ sơ những hang động khổng lồ/ Những đống lửa còn tro tàn sót lại/ Đi tìm lại thời gian đã mất/ Thuở biển cả điên cuồng gầm thét/ Những con chim lạc mỏ dài/ Bay qua vầng trăng lớn/ Cánh sừng sững tắm hoàng hôn đỏ rực/ Cất tiếng kêu hoang dại dưới đêm nồng/ Tôi đi tìm dòng máu của tôi/ Hơi thở đầu sục sôi của tôi/ Trong cuồn cuộn những ngực trần đen bóng/ Những bộ lạc mình vẽ đầy rồng rắn/ Quần hôn trên bờ bãi sông Hồng/ Những mái tóc dài bay gió biển Đông/ Những mái lá có bùi nhùi giữ lửa/ Những người đàn bà tết cỏ cây che vú/ Đã ngọt ngào dòng sữa/ Điệu ru con đầu tiên/ Bức tranh đầu tiên khắc mặt người lên đá/ Điệu múa đầu tiên theo nhịp thuyền".

Dường như đoạn thơ trên không chỉ là thơ khi nó chứa đựng dưới tầng thi ngữ những âm thanh, cảnh sắc, nhạc điệu, hình tượng… của một vở sử thi lớn tái hiện những trang sử mang đậm chất bi ca và hùng ca của dân tộc Việt trong suốt chiều dài ngàn năm dựng nước và giữ nước. Chúng ta có cảm tưởng, Lưu Quang Vũ như một nhà khảo cổ học đi tìm lại thời gian đã mất bằng ngôn ngữ của thi ca lãng mạn và ông đã phát hiện những tầng văn hóa Việt cổ trong bề dày lịch sử văn hiến của dân tộc. Thơ của Lưu Quang Vũ mang vẻ đẹp lạ kỳ của hình ảnh và ngôn ngữ thơ lãng mạn, mang tính đặc thù của riêng ông với những câu thơ xuất thần đậm nét tài hoa và giàu cảm xúc. Những câu thơ vang lên trong tâm tưởng người đọc một nhạc điệu lãng mạn đầy xúc động với những thi ảnh được chọn lọc một cách tinh tế và giàu tính hội họa.

Qua bài thơ "Đất nước đàn bầu", chúng ta có thể thấy những đóng góp của Lưu Quang Vũ cho sự phát triển của thơ hiện đại là khá đa dạng. Không chỉ nằm ở bình diện phát hiện các vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ, sự đóng góp ấy còn thể hiện ở việc Lưu Quang Vũ đã khắc họa chiều sâu những rung động suy tư của tâm trạng con người trong những tầng văn hóa sống động của đời sống lịch sử dân tộc bằng ngôn ngữ thi ca mang phong cách độc đáo của riêng anh và chỉ anh mới có: "Em đến cùng tôi như chùm vải đầu mùa/ Tóc hoang dại lòa xòa trên ngực nắng/ Ngực em sáng như mặt trời sắp lặn/ Tôi đầm đìa sương lạnh của bờ đê/ Tôi thấm đầy nước mắt của trời khuya/ Trăng đã hiện, đêm ca dao vằng vặc/ Những cô Tấm thử hài trong tiếng nhạc/ Những nàng Kiều hồi hộp bấm dây tơ/ Đêm sử thi náo động tiếng quân hò/ Sôi trong máu những bầy voi nguyên thủy/ Sáng trong mắt những rừng gươm chớp lóe/ Những nỗi buồn tê dại ngón tay rung/ Chim Lạc bay, cánh rợp cả sườn non/ Rùa đẻ trứng nồng nàn trên cát bể/ Rừng gầm thét, thác nguồn sao trắng thế/ Đất mênh mông tràn ngập ánh mặt trời/ Gió thổi lồng những đốm lửa không nguôi/ Tôi nhận hết, tôi là người tiếp nối/ Là dĩ vãng nhưng chẳng là bóng tối/ Nước mắt tôi ướt đẫm những dây đàn".

Có thể nói, những câu thơ huyền ảo, âm vang và mộng mị nói trên của Lưu Quang Vũ, phần nào đó đã dựng lên bức tranh sử thi trong một vở kịch lớn trên đất Việt ngàn năm của chúng ta. Với hai bài thơ, từ "Bên kia sông Đuống" tới "Đất nước đàn bầu", chúng ta có thể thấy vẻ đẹp của thi ca lãng mạn yêu nước đã cất cánh trên cái nền của văn hóa-nghệ thuật ngàn đời của cha ông. Và, đấy chính là sự đóng góp lớn của hai nhà thơ Hoàng Cầm và Lưu Quang Vũ cho thi ca Việt Nam.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.