Tác giả “Đây thôn Vĩ Dạ” trong cuộc tình rung động bởi thương đau

Hàn Mặc Tử đã rời xa nhân thế 80 năm, nhưng tác phẩm của ông vẫn rưng rưng trong lòng bạn đọc hôm nay. Đặc biệt, những bóng hồng đã lướt qua cuộc đời Hàn Mặc Tử và để lại dấu vết thơ ông, luôn khiến nhiều người xao xuyến. Thế nhưng, Hàn Mặc Tử yêu ai và ai yêu Hàn Mặc Tử, vẫn đầy hư ảo và vẫn gợi tò mò.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (1942-2005) là người đã góp công xây dựng khu mộ Hàn Mặc Tử nằm trong khu điều trị bệnh phong Quy Hòa, thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Sự yêu mến của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh dành cho thi sĩ đoản mệnh không chỉ dừng lại ở đó, mà còn được viết thành ca khúc "Hàn Mặc Tử" chinh phục công chúng suốt bao nhiêu năm qua. Trong ca khúc "Hàn Mặc Tử" có nhắc "Hàn Mặc Tử xuôi về quê cũ, giấu thân nơi nhà hoang/ Mộng Cầm hỡi thôi đừng thương tiếc, tủi cho nhau mà thôi", vì vậy nhiều người đinh ninh Mộng Cầm là người đẹp quan trọng nhất trong cuộc đời Hàn Mặc Tử.

Mộng Cầm và địa danh Lầu Ông Hoàng được âm nhạc Trần Thiện Thanh miêu tả lâm ly, gắn bó thế nào với Hàn Mặc Tử? Mộng Cầm tên thật Huỳnh Thị Nghệ, là cháu gái của thi sĩ Bích Khê. Nhờ tình bạn với Bích Khê, mà Hàn Mặc Tử có quen biết với Mộng Cầm, và đôi bận ghé qua Phan Thiết để thăm thiếu nữ hay chữ ấy. Mộng Cầm có tình ý gì với Hàn Mặc Tử không?

Hàn Mặc Tử qua nét vẽ Tạ Tỵ.
Hàn Mặc Tử qua nét vẽ Tạ Tỵ.

Mộng Cầm không hề thổ lộ điều gì cụ thể, nên Hàn Mặc Tử thất tình và làm bài thơ "Muôn năm sầu thảm" gọi đúng tên thật của người trong mộng dở dang: "Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm/ Nhớ thương còn một nắm xương thôi/ Thân tàn ma dại đi rồi/ Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan/ Nghe gió là ôm ngang lấy gió/ Tưởng chừng như trong đó có hương/ Của người mình nhớ mình thương/ Nào hay gió tạt chả vương vấn gì".

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí (1912-1940) chỉ sống 28 năm với cõi người bận bịu, với thi ca nhọc nhằn. Từ thuở viết "Gái quê", Hàn Mặc Tử đã khao khát yêu đương "Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự/ Tôi đều nhận thấy trên môi em/ Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi  tôi mấp máy thèm" nhưng hành trình tìm kiếm tình nhân của ông chỉ thấy éo le và trắc trở. Không được yêu trong đời thực thì Hàn Mặc Tử phơi bày niềm yêu trong thơ.

Ông từng thổ lộ: "Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, đã phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú".

Những bóng hồng đã "đánh" Hàn Mặc Tử bằng chính sự hững hờ. Một lần bị "đánh" đáng nhớ nhất của Hàn Mặc Tử, đã cho ra đời tuyệt phẩm "Đây thôn Vĩ Dạ". Khoảng năm 1933, Hàn Mặc Tử làm việc tại Sở Địa chính Quy Nhơn, đã tình cờ quen biết một cô gái Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc thường lấy bút danh Hoàng Cúc. Vẻ đẹp của Hoàng Cúc khiến Hàn Mặc Tử say đắm thì rõ rồi, nhưng họ có hẹn hò không?

Hoàng Cúc kể: "Hàn Mặc Tử có gặp tôi hai lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi  chào về. Lần thứ hai, Hàn Mặc Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ "Bâng khuâng" với mảnh giấy nhỏ có mấy dòng chữ. Tôi bàng hoàng rồi từ chối, không nhận sách, không nhận thư".

Với Hoàng Cúc thì quan hệ với Hàn Mặc Tử dừng ở mức sơ giao. Thế nhưng, năm 1938 khi biết tin Hàn Mặc Tử bị bệnh phong, Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm bưu thiếp phong cảnh Huế và dăm câu động viên. Nhận được món quà bất ngờ đó, Hàn Mặc Tử đã hồi âm theo kiểu khá đặc biệt. Lá thư của Hàn Mặc Tử ngắn gọn: "Có nhận được bức ảnh bến Vĩ Dạ lúc hừng đông hay một đêm trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm. Muôn vàn cảm tạ túc hạ còn nhớ đến nghĩa năm xưa thì phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy đủ…".

Quan trọng hơn, kèm theo những dòng thư cảm tạ ấy là bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ". Chính Hoàng Cúc cũng không thể tiên liệu, một nghĩa cử nho nhỏ của mình đã giúp nền thi ca Việt nam có được một kiệt tác: "Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?".

Trái tim đa cảm của Hàn Mặc Tử đã vẽ nên "lá trúc che ngang mặt chữ điền". Khi nhà thơ Quách Tấn có hỏi Hoàng Cúc về nguồn cảm hứng trong thơ, thì Hoàng Cúc trả lời trong lá thư ngày 15/4/1971 khá tường tận: "Bức ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, chụp ảnh hoàng hôn mà tôi mua ở phố. Trong ảnh không có cô gái nào khác, ngoài cô chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng của thi nhân".

Nữ sĩ Mai Đình.
Nữ sĩ Mai Đình.

Có phải cả đời thi sĩ Hàn Mặc Tử chỉ yêu người không yêu mình chăng? Không, vẫn có một người phụ nữ đem lòng yêu Hàn Mặc Tử thật sự. Trong các tác phẩm nghệ thuật nói về cuộc đời Hàn Mặc Tử từ kịch nghệ đến phim ảnh đều chủ yếu tập trung vào hai nhân vật Mộng Cầm và Hoàng Cúc, mà ít khai thác nhân vật Mai Đình. Em ruột của thi sĩ Hàn Mặc Tử là ông Nguyễn Bá Tín đã viết cuốn sách "Hàn Mặc Tử anh tôi" khẳng định rằng Mai Đình mới là mối tình đích thực với Hàn Mặc Tử.

Mai Đình tên thật là Lê Thị Mai, quê gốc Thanh Hóa. Những năm theo cha vào sinh sống ở Phan Thiết. Sợi tơ kết nối Mai Đình với Hàn Mặc Tử cũng chính là thi ca, như bà từng bộc bạch: "Tôi mê đọc sách, đặc biệt Đường thi. Tâm hồn đẫm thơ văn.

Một lần trên mục Văn chương tờ "Sài Gòn" tình cờ tôi đọc được bài "Thức khuya" của Hàn Mặc Tử. Chất thơ, hồn thơ, tâm trí lự của tác giả làm tôi say, tôi cảm. Không hiểu sao cái tên Hàn Mặc Tử cứ ám ảnh tôi hoài và từ đó tôi cố ý tìm đọc hàng loạt những bài khác của thi nhân này. Bài nào tôi cũng cảm thấy hay, thấy xúc động và trong tôi bỗng thấy hình thành bóng dáng một thi sĩ Hàn Mặc Tử thật tuyệt vời.

Cũng từ đấy dường như có sự kỳ diệu nào thôi thúc tôi quyết định gửi những bản thảo thơ của mình cho mục Văn chương của tờ "Sài Gòn" cùng những niềm huy vọng rất mơ hồ, rất khó giải thích, bởi tôi biết rằng trong Ban Biên tập của tờ báo đáng kính đó có Hàn Mặc Tử…

Thế rồi tôi nhận được thư anh. Lời thư thật tao nhã cao sang. Anh nói rằng anh thật sự xao xuyến trước vẻ đẹp và sự tinh túy của những bài thơ tôi viết với một bút danh rất mới: Mai Đình và anh lần lượt cho đăng. Dường như tiền định, hai tâm hồn thơ gặp nhau cảm trọng, mến mộ nhau, chỉ qua thư từ trao đổi thôi chứ chưa hề gặp mặt, vậy mà đã rất ý hợp tâm đồng".

Khi Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong, phải tìm về Quy Hòa trú ngụ với bao nhiêu đau đớn và tuyệt vọng, thì Mai Đình đã tình nguyện ở bên cạnh thi sĩ. Ông Nguyễn Bá Tín viết: "Khác với những mối tình âm thầm kín đáo, hoặc dè dặt trước kia, chị Mai Đình là người yêu thơ cũng như yêu con người phong cùi đó, một cách ồn ào, sôi nổi và tha thiết nhất".

Mai Đình có bài thơ "Biết anh" tặng Hàn Mặc Tử: "Còn anh, em đã gặp anh đâu/ Chỉ cảm vần thơ có những câu/ Âu yếm say sưa đầy cả mộng/ Xui lòng tư tưởng lúc đêm thâu". Và Hàn Mặc Tử cũng có bài thơ "Lưu luyến" tặng Mai Đình: "Chửa gặp nhau mà đã biệt ly/ Hồn anh theo dõi bóng em đi/ Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió/ Lưu luyến bên em chẳng nói gì…/ Anh đã ngâm và đã thuộc làu/ Cả người rung động bởi thương đau/ Bởi vì mê mẩn, vì khoan khoái/ Anh cắn lời thơ để máu trào".

Chân tình của Mai Đình dành cho Hàn Mặc Tử những năm cuối đời, không chỉ giúp Hàn Mặc Tử chống chọi sự hành hạ của bệnh phong, mà còn thế hệ sau tin rằng tình yêu luôn hiện diện trên cõi người lắm toan tính nhiều lạnh lùng.

Tuy Hòa

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.