Sự ra đời của một ca khúc nổi tiếng

Có những địa danh nổi tiếng, ai nghe cũng biết, dẫu có thể chưa đặt chân. Ví như Hạ Long, Sầm Sơn, Đồ Sơn, Côn Đảo, Tam Đảo, Phú Quốc, Vũng Tàu… Vậy mà chưa có được những bài hát tương xứng. Ngược lại, có những vùng đất vốn dĩ lúc đầu chẳng có gì đặc biệt, không ai biết tới. Nhưng nhờ có những chiến công oanh liệt nào đó hoặc một bài hát hay nói đến mà trở nên lừng danh. Bạch Long Vĩ là trường hợp như vậy.

Đó là một hòn đảo nhỏ ở miền biển phía Đông Bắc nước ta, cách Hải Phòng 160km. Đảo này đã trở nên anh hùng với những chiến tích oanh liệt của quân dân ta chống trả những đợt oanh kích tàn bạo của địch trong cuộc chiến tranh phá hoại những năm tháng giữa thập niên 60 của thế kỷ trước.

Bạch Long Vĩ là biểu tượng hùng hồn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân dân ta trong cuộc chiến tranh đó. Nhưng nói đến vùng đất có cái tên rất đẹp này (đuôi rồng trắng), người ta còn nghĩ ngay đến một bài hát hay, rất nổi tiếng. Đó là bài “Bạch Long Vĩ đảo quê hương” của nhạc sĩ Huy Du (1926-2007): "Bạch Long Vĩ đảo quê hương. Em đứng trên biển đông. Thôn xanh phù thuỷ châu, mênh mông sóng bạc đầu. Gió rì rào năm tháng...".

Sự ra đời của một ca khúc nổi tiếng -0
Nhạc sĩ Huy Du.

Bài hát được bắt đầu bằng những đường nét âm nhạc thật duyên dáng, đầy nữ tính. Toàn bộ đoạn A của bài hát (từ đầu đến... "tiếng hát em ngân càng cao") là một bức tranh thủy mạc được nhạc sĩ "vẽ" trên lụa với những màu sắc tươi sáng. Chỉ vài nét chấm phá, bức tranh đã hiện ra rất sinh động. Người nghe hình dung tới một hòn đảo nhỏ, đất không rộng, người không đông, nằm chơi vơi xa lắc ngoài biển Đông, gần như suốt ngày đêm, quanh năm chỉ có sóng và gió. Nhạc sĩ cũng không quên hai thứ rất đẹp có ở Bạch Long Vĩ, làm nên nét đặc trưng của đảo này. Đó là bào ngư và trúc anh đào. Nhưng trùm lên tất cả vẫn là tình yêu quê hương, xứ sở của những người sống ở nơi đây: "Bạch Long Vĩ đảo quê hương. Sóng vỗ bao tình thương. Gió mang đi ngàn phương...".

Huy Du hay phổ nhạc từ thơ của người khác nên người ta dễ cho rằng ông chỉ giỏi về làm nhạc mà sở đoản viết lời. Nhưng qua bài hát này, người nghe lại thấy ông giầu năng lực văn học và soạn ca từ cũng hay. Không dễ gì có thể viết ra được những lời lẽ như trên, nhất là hình tượng "Sóng vỗ bao tình thương" thật giầu sức biểu cảm. Nhạc sĩ nhìn hòn đảo vẫn thấy nét đẹp thơ mộng của thiên nhiên, mặc dù lúc ông khai sinh tác phẩm, mảnh đất này vô cùng khốc liệt bởi những trận bom của giặc dội xuống suốt ngày đêm.

Vâng. Đó là một ngày của năm 1965, cách đây đã gần 60 năm. Khi ấy, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bắt đầu lan rộng ở miền Bắc. Nhạc sĩ Huy Du lúc này đang là Trưởng đoàn Ca múa quân đội, có dịp cùng một nhóm làm phim ra đảo Bạch Long Vĩ. Những người làm phim có ý định thực hiện một bộ phim tài liệu về hòn đảo này. Còn Huy Du thì đi với tư cách vừa là nhạc sĩ sáng tác, vừa dẫn đầu một nhóm diễn viên ra phục vụ quân dân ở đảo.

Ba tháng ròng rã nhạc sĩ sống ở nơi đây, có thể nói như sống giữa một cái túi đựng bom vì máy bay Mỹ mỗi lần vào đất liền oanh tạc miền Bắc, trước khi rút về căn cứ lại trút tất cả lượng bom còn thừa xuống Bạch Long Vĩ. Những ngày tháng ấy, đây là nơi vô cùng khốc liệt, mang đậm dấu ấn cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Huy Du kể rằng cứ ngưng tiếng bom là ông lại tranh thủ đi dạo, lang thang khắp các ngõ ngách trên đảo. Và ông đã cảm nhận hết vẻ đẹp nên thơ của thiên nhiên trữ tình cùng với sự gan góc, anh hùng của quân dân nơi đây. Bài hát đầu tiên ông hoàn thành trong dịp đi thực tế này là “Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi”. Liền sau đó, ông làm nhạc cho bộ phim tài liệu “Bạch Long Vĩ” của đạo diễn Trần Nhật Hiển.

Lúc này, Huy Du đã rất nổi tiếng với những bài hát “Ba Vì năm xưa”, “Sẽ về thủ đô”, “Hoa mộc miên”, “Hàng dừa xanh”, “Bế Văn Đàn sống mãi”, “Anh vẫn hành quân”... Ông được nhiều đơn vị bộ đội và Đoàn thanh niên tại huyện đảo mời đến nói chuyện. Không phải là người diễn thuyết giỏi nhưng vì nổi tiếng nên người ta kéo đến nghe rất đông. Nhiều cô gái xin ông chữ ký và muốn ông sáng tác một bài hát về đảo Bạch Long Vĩ cho họ hát.

Thế là Huy Du nghĩ tới việc cần phải có một bài hát trong phim, cố gắng viết thật hay, dễ hát để luôn thể đáp ứng nguyện vọng của các cô gái. Thế là ca khúc “Bạch Long Vĩ đảo quê hương” ra đời. Ở bài hát này, ông muốn không chỉ thể hiện tình cảm người chiến sĩ, mà chủ yếu là của những người dân bình thường sống trên đảo.

Sự ra đời của một ca khúc nổi tiếng -1
Hoàng hôn trên đảo Bạch Long Vĩ.

Vẫn bị ám ảnh, chưa thoát ra được giai điệu bài hát trước, trong lúc chưa biết hình thành bài mới từ chất liệu gì, bắt đầu ra sao thì một lần đang đi lững thững trên đảo giữa hoàng hôn vào một ngày giặc không trút bom (Những ngày như thế rất hiếm hoi trong thời gian ấy), nhạc sĩ bỗng nghe từ giữa những khóm trúc anh đào vang lên tiếng hát của mấy cô dân quân. Để các cô tự nhiên hát, ông đã lặng lẽ đi qua, cố gắng không để họ phát hiện có người lạ đang nghe mình. Rồi các cô lại hát. Tiếng hát càng trong trẻo, càng say sưa, ngân vang giữa một vùng đảo xa chơi vơi nơi biển cả.

Nhạc sĩ thấy thật thú vị. Các cô chỉ quen lao động và cầm súng bắn máy bay chứ không thạo ca hát. Không phải là văn công mà ông thấy họ hát rất hay. Sự liên tưởng, óc tư duy, tưởng tượng của người sáng tác bao giờ cũng vô bờ bến. Ông nghĩ tới sự sống bất diệt nơi tưởng như rất khó tồn tại bởi hàng tấn bom kẻ thù trút xuống mỗi ngày. Thế là bật ra được những âm thanh đầu tiên như chúng ta đã biết - những âm thanh thật ngọt ngào, dịu dàng, mềm mại, chứ không sôi động, khẩn trương như không khí âm nhạc chung của những ngày tháng ấy.

Viết bài hát cho phim tài liệu lần này với nội dung hình ảnh đã rất hào hùng, ông thấy không cần thiết phải tạo nên một giai điệu cũng sôi động. Tuy vậy, để tạo sự tương phản trong một ca khúc thể 2 đoạn, nhạc sĩ đã đẩy không khí ở đoạn B cho sôi nổi, khẩn trương hơn, nhưng vẫn là sự vui vẻ, có phần nhí nhảnh mang đậm nữ tính, chứ không phải không khí căng thẳng của đạn bom. Đó là đoạn từ: "Từ tháng tám mùa thu nghe tiếng mẹ ru. Sớm nắng chiều mưa..." đến: "không quên người". Hiệu quả tươi vui, nhanh, sôi nổi đạt được nhờ việc sử dụng hàng loạt nốt móc kép liên tục được duy trì trong suốt cả đoạn. Nhưng cuối cùng, tác giả vẫn cho bài hát quay về đoạn A để kết, bởi muốn củng cố lại ấn tượng về sự mượt mà, óng ả, thơ mộng, rất đẹp của giai điệu.

Trong nền âm nhạc chống Mỹ cứu nước, “Bạch Long Vĩ đảo quê hương” là một bài hát đặc sắc. Đã nhiều chục năm trôi qua, nghe lại, ta vẫn thấy mới mẻ. Nói vậy để thấy một thành công lớn của tác phẩm này là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn hai yếu tố truyền thống và hiện đại. Bộ phim tài liệu “Bạch Long Vĩ” có giá trị tuyên truyền nhất thời. Nhưng bài hát trong phim đã vượt ra khỏi khuôn khổ bộ phim để sống mãi. Khi ra đời, bài hát được vang trong phim, rồi trên làn sóng phát thanh bằng giọng hát của một tốp ca nữ. Sau đó, có nhiều ca sĩ hát đơn ca, song ca cũng rất hiệu quả. Tuy nhiên, do đặc điểm nữ tính của giai điệu như đã nói, bài hát chỉ phù hợp với sự thể hiện của giọng nữ.

Cuối cùng là hai chi tiết có lẽ cần thông tin đến độc giả sau khi bài hát này ra đời. Chi tiết thứ nhất: Tình cờ một lần ra đảo Bạch Long Vĩ, tôi quen một cô gái trẻ tình nguyện ra công tác ở đảo này sau khi tốt nghiệp đại học. Nhà cô ở Hải Phòng, lại có ông bố làm cán bộ khá "to" hoàn toàn có thể lo cho cô làm việc ở thành phố, thậm chí ở Thủ đô. Nhưng cô vẫn ra đảo. Tôi hỏi lý do khiến cô có thể sẵn sàng ra nơi sóng gió heo hút. Cô trả lời: "Em rất thích bài hát “Bạch Long Vĩ đảo quê hương” nên muốn ra đảo một thời gian xem sao. Sau này, nếu cần, em có thể xin chuyển về đất liền cũng được".

Chi tiết thứ hai: Sau này, lãnh đạo đảo Bạch Long Vĩ nhiều lần tổ chức mời các nhạc sĩ tiếp tục sáng tác cho đảo. Nhưng nhiều người - trong đó có cả những nhạc sĩ nổi tiếng - chưa nhận lời chỉ vì cái bóng của bài “Bạch Long Vĩ đảo quê hương” quá lớn. Họ nghĩ sẽ khó có thể vượt qua.

Đến hôm nay, chắc không mấy bạn đọc biết bài hát này được hình thành từ một bộ phim tài liệu nhỏ, khiêm nhường.

Thôn Ca

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.