Số phận đặc biệt của một bài ca bất hủ

"Câu hò bên bờ Hiền Lương" là trường hợp thật đặc biệt với cảm xúc cũng rất đặc biệt của nhạc sỹ từ chuyện tình cảm động của một đôi nam nữ ở hai bên đầu cầu Hiền Lương ngày ấy...

Là người Việt Nam từng sống vào cuối thập niên 50 của thế kỷ trước, có thể nói không ai không biết và ưa thích bài hát "Câu hò bên bờ Hiền Lương" của nhạc sỹ Hoàng Hiệp. Giờ đây, cứ mỗi lần có dịp đến cầu Hiền Lương, trái tim ta lại bồi hồi nhớ đến giai điệu bài hát và những lời ca thật da diết nhớ thương: “Bên ven bờ Hiền Lương/ Chiều nay ra đứng trông về/ Mắt đượm tình quê/ Ôi mắt đượm tình quê/ Xa xa đoàn thuyền nan/ Buồm căng theo gió xuôi dòng/ Bỗng trong sương mờ /Không gian trầm lắng nghe câu hò…”. Nhưng bài hát được ra đời như thế nào và có số phận “long đong lận đận” ra sao thì không mấy người biết rõ.

"Câu hò bên bờ Hiền Lương" là trường hợp thật đặc biệt với cảm xúc cũng rất đặc biệt của nhạc sỹ từ chuyện tình cảm động của một đôi nam nữ ở hai bên đầu cầu Hiền Lương ngày ấy.

Chuyện kể rằng, những năm sau hòa bình lập lại (1954), đất nước ta tạm thời bị chia cắt. Từ vĩ tuyến 17 trở ra là chế độ miền Bắc của chúng ta, còn từ đó vào Nam thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm. Có một anh bộ đội tên là Phan Đình Đồng (sinh năm 1915), quê ở huyện Gio Linh (Quảng Trị) từng chiến đấu chống thực dân Pháp ở chiến trường Bình – Trị - Thiên.

Nhạc sỹ Hoàng Hiệp.
Nhạc sỹ Hoàng Hiệp.

Sau năm 1954, anh được tập kết ra Bắc, phụ trách trạm đèn biển ở Cửa Tùng. Lúc anh lên đường thì vợ anh – tên là Nậy – đang mang thai đứa con gái út được 3 tháng. Như một linh cảm kỳ lạ, năm 1955, đúng vào đêm chị Nậy sinh con thì anh Đồng từ bờ Bắc bí mật vượt sông Bến Hải trở vào Nam. Tình hình lúc này không cho phép anh ở lại lâu nên chỉ kịp hôn vợ, con rồi phải nhanh chóng trở ra Bắc tiếp tục làm nhiệm vụ gác đèn biển. Đó là một đêm rét cắt ruột. Mẹ con chị Nậy phải nằm co ro trong căn hầm bí mật chỉ có vài mét vuông.

Lúc chia tay vợ đi tập kết, anh Đồng hẹn ước sau 2 năm nữa sẽ trở về với vợ con (khi đó, hiệp định Giơ-ne-vơ quy định sau 2 năm – tức 1956 – sẽ hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất 2 miền). Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm bội ước, không thực hiện lời cam kết. Thế là việc thống nhất không thành. Tình trạng chia cắt đất nước phải kéo dài suốt hơn 20 năm (1954 – 30/4/1975). Thế là đằng đẵng gần 20 năm trời, ngày nào anh Đồng cũng lên đỉnh ngọn hải đăng Cửa Tùng, làm xong nhiệm vụ, lại dõi nhìn về hướng Nam – nơi vợ con đang mong ngóng chờ đợi mình từng giây phút. Mỗi lần nhìn những cột khói đen mịt mù bốc lên từ phía quê hương ở bờ Nam, lòng anh lại càng cồn cào, đứng ngồi không yên.

Cuối năm 1955, chị Nậy (lúc này vừa sinh con) tham gia hoạt động du kích. Chị thường giả vờ làm người buôn cá, vào tận sát các đồn địch để bán với mục đích lân la dò hỏi, tìm hiểu tình hình. Tuy gánh cá đè nặng trên vai nhưng chị vẫn kiên nhẫn tính nhẩm từng bước đi để về cộng lại, từ đó mà tính ra cự ly từng đồn địch, giúp bộ đội nã pháo trúng đích chính xác.

Trong một lần chạm trán với địch ở vĩ tuyến 17, chị đã ngoan cường chiến đấu và anh dũng hy sinh. Lúc này chị là Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã Gio Hải (huyện Gio Linh). Chiến tranh mỗi lúc càng khốc liệt hơn, gia đình Phan Đình Đồng về sau chỉ còn sống sót cô Phan Thị Hoa là con gái út của anh Đồng, cũng là một o du kích can trường, quả cảm giống mẹ cô ngày trước – chị Khổng Thị Nậy.

Cuối năm 1972, sau gần 20 năm biệt vô âm tín, anh Đồng mới biết con gái mình đang có mặt ở xã Vĩnh Kim – bờ Bắc sông Bến Hải, đang làm nhiệm vụ thu nhận thêm quân để đưa vào bờ Nam chiến đấu. Anh tìm đến gặp con gái. Khi anh đến, có 5 cô gái cùng trạc tuổi nhau, đều nói tiếng Quảng Trị ra đón. Vậy mà linh tính đã mách bảo, ông nhận ra được đúng con gái mình, đến ôm chầm lấy con. Hai cha con tuôn trào nước mắt. Các cô gái khác cũng trào lệ khi chứng kiến cảnh gặp lại rất đỗi cảm động của hai cha con.

Cuộc gặp gỡ giữa anh Đồng và cô con gái út tên Hoa chỉ diễn ra trong chốc lát vì ngay sau đó, cô phải trở vào bờ Nam tiếp tục hoạt động. Sau ngày đất nước được thống nhất (30/4/1975), cô Hoa  lấy chồng cùng quê ở bờ Nam. Biết vợ mình còn người cha già đang sống cô đơn ở bờ Bắc, chồng cô quyết định sang mua nhà định cư ở thị trấn Cửa Tùng để được gần gũi, thuận tiện trong việc chăm sóc cha.

Trạm canh đèn biển của Phan Đình Đồng (giờ xin được gọi là ông) đã bị bom địch san lấp trong chiến tranh, nhưng ông thấy như là đã trở thành một phần máu thịt của mình. Vậy nên ông đã quyết định cất một ngôi nhà nhỏ cạnh bờ biển, sát ngọn hải đăng khi trước. Và tuy đã già yếu, mắt mờ, chân run nhưng ngày ngày, ông vẫn chống gậy ra bờ biển nhìn về phía bờ Nam để chìm đắm vào ký ức với bao kỷ niệm về người vợ yêu thương đã son sắt chờ chồng, nơi có các con đã hy sinh vì Tổ quốc.

Sau này, ở Cửa Tùng, hai ngọn hải đăng đã được xây lại thay thế cái cũ bị san lấp trong chiến tranh. Ông Phan Đình Đồng cũng đã qua đời mấy năm nay, chỉ còn người con gái út tên Hoa như đã nói cũng đã ở tuổi ngoài 60 hiện đang sinh sống ở thị trấn Cửa Tùng.

Đó là toàn bộ câu chuyện tình cảm động về người lính gác đèn biển có tên Phan Đình Đồng ở Cửa Tùng suốt mấy chục năm.

Ông Phan Đình Đồng - nguyên mẫu trong ca khúc “Câu hò bên bờ Hiền Lương”.
Ông Phan Đình Đồng - nguyên mẫu trong ca khúc “Câu hò bên bờ Hiền Lương”.

Cuối năm 1956. Lúc này, nhạc sỹ Hoàng Hiệp đang học sáng tác ở trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam). Trong một lần thày trò của trường đi thực tế ở vĩ tuyến 17, tình cờ ông gặp một người lính gác đèn biển có dáng vẻ thật đặc biệt. Đó là sự lầm lũi, thầm lặng với đôi mắt lúc nào cũng đăm đắm nhìn về phía bờ Nam như chìm vào một thế giới nội tâm không dễ người khác có thể thấu tỏ.

Người lính này đã để lại cho Hoàng Hiệp một ấn tượng đặc biệt ngay từ lần gặp đầu tiên khiến ông cứ bị ám ảnh mãi đôi mắt sâu thẳm, vời vợi của anh. Rồi lần trở lại nơi đây vào năm sau -1957 - Hoàng Hiệp gặp lại anh lính và quyết định làm quen, tiếp xúc để khám phá nhân vật. Và Phan Đình Đồng – tên người lính – đã vừa chỉ tay về phía một làng quê ở bờ Nam, nơi có những hàng dương cao ngất, vừa kể hoàn cảnh của mình cho nhạc sỹ nghe. Anh lính cho nhạc sỹ biết nhà mình ở cái làng quê phía xa xa, nơi có những hàng dương cao ngất. Ở đó đang có vợ con sinh sống nên ngày ngày anh lên đây không chỉ làm nhiệm vụ mà còn để nhìn về quê hương.

Anh cho biết không ít lần đã nhìn thấy ai như vợ, con mình đang từ xóm ra bãi biển để nhận cá mang ra chợ bán. Những lúc như thế, anh muốn gọi thật to tên vợ, con cho đỡ nhớ. Nhưng rồi cũng chỉ là tiếng sóng Cửa Tùng vỗ ì oạp suốt đêm ngày, cồn cào như cõi lòng anh. 

Ngay trong đêm đó, bài hát "Câu hò bên bờ Hiền Lương" được ra đời. Kết thúc đợt thực tế, trở về Hà Nội, nhạc sỹ Hoàng Hiệp đem bài hát đến Đài Tiếng nói Việt Nam và được chấp nhận. Sau khi vang lên trên làn sóng, bài hát nhanh chóng có sức lan tỏa, nhiều thính giả gửi thư về Đài khen hay, yêu cầu được nghe lại. Nhưng khi bài hát đã bắt đầu lan truyền, có ý kiến của một người có cương vị cho rằng âm điệu yếu đuối, ủy mị, giống với “nhạc vàng”.

Vậy nên lập tức bị đình chỉ phát sóng. Rất may là sau đó, Bác Hồ đã khen bài này chứa chan tình cảm, nói đúng được hiện trạng đất nước bị chia cắt, có nội dung rất “chính trị” là khơi gợi ý chí đấu tranh thống nhất đất nước. Bác cho đây là bản tình ca bất diệt của tinh thần yêu nước, tin tưởng ở ngày mai non sông sẽ thống nhất, bà con hai miền Nam, Bắc sẽ được sum họp một nhà.

Thế là từ đó, bài hát được phục hồi và sống mãi đến hôm nay và muôn đời sau. Suýt nữa một tác phẩm âm nhạc có giá trị lớn bị khai tử nếu không có vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc can thiệp. Qua đây ta thấy, Bác Hồ không chỉ là một lãnh tụ, nhà tư tưởng vĩ đại mà còn là nhà văn hóa lớn với sự cảm thụ nghệ thuật tinh tế, sâu sắc và chính xác.

Xin nói thêm một chút về cái tên bài hát. Có rất nhiều văn bản và lời giới thiệu đã nhầm là "bến Hiền Lương" thay vì "bờ Hiền Lương". Theo NSƯT Văn Hanh – ca sỹ từng nhiều năm làm việc ở Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam, năm nay đã hơn 80 tuổi - ông là người đầu tiên thu thanh bài này để phát trên làn sóng. Sau đó, khi bài hát nổi tiếng mới có nhiều ca sỹ khác tiếp tục thu. Chính ông đã nhìn tận mắt chữ của Hoàng Hiệp trong văn bản là “bờ” chứ không phải “bến”. “Bờ” quả là chính xác vì tại hai đầu cầu Hiền Lương không có bến nào để tàu, thuyền neo đậu mà chỉ là đôi bờ sông chạy dài.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.