Trong một lần đi công tác lên xã Dân Hóa, tôi tình cờ nhìn thấy một bộ sách rất lạ - mãi sau này tôi mới biết đó là sách lá, được treo ở một vị trí rất trang trọng trong ngôi nhà của ông Hồ Phoong, ở bản Ka Roong. Đến khi được nghe, được sờ tay vào những dòng chữ cổ của người xưa được khắc ghi trên bộ sách lá, tôi thấy mình như lạc vào nguồn gốc ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa, văn học của cả một tộc người.
Ông Hồ Phoong, sinh năm 1950, là con thứ tư của Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Phòm (ông Hồ Phòm được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1967- PV). Thời niên thiếu ông đã được nghe ông nội và bố kể cho nghe về nội dung của bộ sách lá, đó là kinh Phật khuyên răn chúng sinh nên làm lành tránh dữ hay những câu chuyện dân gian gắn bó với bề dày lịch sử của người Khùa.
Ông kể, trước lúc đi xa, ông nội tên là Hồ Văn đã gọi bố và ông lại căn dặn phải gìn giữ cẩn thận hai bộ sách lá đã hơn 100 năm tuổi. Ghi lòng tạc dạ lời của ông nội, nên gia đình mặc dù phải thay đổi chỗ ở liên tục do chiến tranh và mưa bão, nhưng bộ sách lá luôn được ông mang theo bên người.
Hiện tại, ở nhà ông Hồ Phoong có hai bộ sách lá, một bộ dài khoảng 50 cm có 150 trang, một bộ dài khoảng 60 cm có 200 trang, mỗi trang có 4 dòng được ghi bằng những ký tự giống như chữ viết của người Lào và Campuchia. Trước đây chỉ có bậc cao niên trong vùng mới đọc được những ký tự chép trên bộ sách lá này, ông Hồ Phoong cũng đã được bố truyền dạy cách đọc và viết, nhưng cuộc sống lam lũ đã làm con chữ bay theo những hạt ngô, củ sắn. Bây giờ ông chỉ biết đại khái về nội dung của bộ sách lá, chứ đọc thì không được. Có lần một người Lào ghé nhà chơi, ông nhờ đọc nhưng họ cũng đành chịu.
Theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Đinh Thanh Dự, sách lá của người Khùa ở xã Dân Hóa được chia thành 3 bộ, gồm kinh Phật, chuyện đời xưa (theo tiếng người Khùa là Phôộc năng xừ) và giáo pháp trong gia đình. Ký tự được ghi trên các bộ sách lá này có thể là chữ viết cổ của người Lào hoặc Khmer.
Ông Đinh Thanh Dự cho hay, những bộ sách lá này thường là độc bản vì phải làm thủ công rất công phu và tỉ mỉ. Một trang sách lá có chiều dài khoảng 50 đến 60 cm, chiều ngang khoảng 5 cm. Người viết phải thật uyên thâm về chữ nghĩa, vì là chữ cổ xưa lại có kích cỡ lớn nên mỗi lá chỉ có thể ghi được 5 hàng, do vậy không thể viết giống như trên sách thường. Vì thế người chép phải lựa chọn từng từ sao cho chữ nghĩa súc tích, đầy đủ.
Bút và cách viết cho bộ sách này cũng thật đặc biệt, người viết dùng mũi sắt mài thật nhọn hoặc dùng mũi kim làm ngòi bút, khắc từng chữ lên lá. Người viết nhanh mỗi ngày cũng chỉ hoàn thành được từ 5 đến 7 lá. Viết xong, dùng mực Tàu trộn đều với mật một loài cá sống ở khe phết lên, sau đó đục lỗ ở hai đầu để xỏ dây, ngoài cùng là hai thanh gỗ dùng làm bìa. Khi cần đọc hoặc di chuyển chỉ cần đeo dây vào cổ, khi không dùng đến thì chỉ cần rút sợi dây buộc sang một bên và treo ở một vị trí trang trọng nhất trong nhà.
Theo các thư tịch cũ, sách lá có nguồn gốc từ các ngôi chùa Khmer, được viết trên lá cây buông. Cây buông còn gọi là cây slắt krúth giống như cây cọ, cây thốt nốt, có lá dài 3m. Sở dĩ gọi là cây buông bởi khi muốn biến lá thành sách phải buộc lá lại, đợi đến 1 năm đủ ngày mới mở- tức là buông giấy ra. Cây buông có nguồn gốc từ Campuchia do một số nhà sư mang về, được trồng chủ yếu để lấy lá làm sách, nhiều nhất là tại các ngôi chùa Khmer ở tỉnh An Giang, Bạc Liêu và Trà Vinh.
Thông thường cây buông trồng 10 năm mới đâm chồi non, người ta lấy giấy bọc ngoài rồi buộc lại để sau này lá không bị cong, đồng thời để lá có màu vàng nhạt. Nếu không buộc lại lá cây buông sẽ có màu xanh, viết chữ sẽ không đẹp. Buộc khoảng gần 1 năm, người ta chặt xuống, tháo giấy ra rồi dùng ván gỗ ép lại thật chặt từng chiếc lá một, sau đó đem phơi nắng.
Đợi đến khi nào lá héo, sau khi đã loại bỏ xương lá, mới đem cắt đều thành từng khúc, thường mỗi lá được từ 3 đến 4 khúc, mỗi khúc có chiều ngang khoảng 5 đến 6 cm, dài 60 cm, tương ứng với 1 trang sách. Độ dày mỏng của bộ sách lá tùy thuộc vào nội dung sách.
Các bộ sách lá hiện có ở các ngôi chùa Khmer đều lưu giữ từ kinh Phật, kinh luận, phật giới của các vị tăng ni, kinh Tam Tạng... cho đến đạo giáo của cả vùng và lịch sử của các ngôi chùa. Một bộ sách lá nặng khoảng 1kg, ngoài kinh, sách lá còn dùng để chép những câu chuyện dân gian Khmer như chuyện Ramayana, huyền thoại Bốpphatup... và đây cũng là nguồn kịch bản cho các loại hình nghệ thuật sân khấu của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long.
Cũng có tài liệu cho rằng, sách lá chỉ có duy nhất ở dân tộc Thái nơi miền Tây xứ Nghệ, đặc biệt chữ của người Thái nơi đây còn cổ hơn chữ của người Thái ở vùng Tây Bắc. Người Thái ở vùng Tây Bắc trở xuống thì dùng chữ Thái viết trên giấy dó như người Kinh, còn người Thái ở phương Nam, giáp Lào thì vẫn dùng tiếng Thái cổ, nên chỉ có những bậc túc nho cao tuổi là có thể đọc được loại chữ này.
Ông Hồ Phoong tâm sự, mỗi lần đi rẫy về ông thường đem bộ sách lá ra để chỉ dạy cho con cháu cách bảo quản và kể lại những câu chuyện dân gian mang đậm bản sắc của người Khùa như chuyện về chàng Kalakệt, về nàng Angkhămđeng hay những điều kinh Phật, răn dạy con cháu phải sống cho thật tốt để không phụ lòng cha ông xưa. Chiều muộn dần, mặt trời đằng xa đang gác lên dãy Giăng Màn hùng vĩ, chia tay ông Hồ Phoong tôi vẫn cứ băn khoăn một điều rồi đây số phận của bộ sách lá có được lưu giữ cẩn thận để góp phần trả lại cho nền văn hoá Việt Nam nét hấp dẫn đa sắc mãi mãi trường tồn