Phục ơi, thanh thản về nơi vĩnh hằng!

Tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Khắc Phục.

Vẫn biết cái ngày Nguyễn Khắc Phục phải từ biệt gia đình và bạn bè để về nơi vĩnh hằng là không sao tránh khỏi, nhưng tin Phục mất vào hồi 3h40 sáng 20-5-2016 mà Trang Thanh, vợ Phục và nhà thơ, họa sĩ Trần Nhương nhắn cho tôi khi tôi đang ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn làm tôi bàng hoàng, đau xót, lòng trĩu nặng. Từ nay tôi và bạn bè của Phục không còn được ngồi “đấu hót” với Phục, như Phục thường nói mỗi khi nhớ đến bạn bè.

Mới đó mà đã 45 năm làm bạn với Phục với biết bao kỷ niệm buồn vui mà trong giờ phút đau buồn này tôi lại không có mặt bên Phục.

Năm 1971, từ Quảng Bình tôi đi B, vào Khu V làm phóng viên của Thông tấn xã Giải phóng tại chiến trường này. Cũng năm đó, Nguyễn Khắc Phục có mặt trong đoàn nhà văn trẻ từ Hà Nội vào đây. Chúng tôi biết nhau từ đó, nhưng phải đến năm 1972 khi tôi và Nguyễn Khắc Phục cùng về công tác tại Đặc Khu ủy Quảng Đà thì chúng tôi mới trở thành bạn thân của nhau. Nhớ lại những ngày đó, trong bài báo “Một chút giật mình.

Một chút thảng thốt” để giới thiệu tập thơ “Một chút” của tôi xuất bản năm 2005, Nguyễn Khắc Phục kể lại: “Dương Đức Quảng nhỉnh hơn tôi hai tuổi, nhưng cùng thích đấu hót, đánh cờ tướng, thích tha thẩn xuống Đặc khu Quảng Đà, nơi tuy không còn ác liệt, gian khổ như những năm Mậu Thân – Kỷ Dậu (1968-1969), nhưng cũng đủ dữ dội để anh em, đồng nghiệp của chúng tôi đã phải đổ máu hy sinh. Thế cũng là quá đủ để chúng tôi đánh bạn với nhau!”…

Vợ chồng nhà văn Nguyễn Khắc Phục (bên trái) và vợ chồng nhà báo Dương Đức Quảng tại Viện Quân y 103.
Vợ chồng nhà văn Nguyễn Khắc Phục (bên trái) và vợ chồng nhà báo Dương Đức Quảng tại Viện Quân y 103.

Những ngày ở Quảng Đà ấy chúng tôi gắn bó với nhau, không chỉ như Phục nhớ lại: “Ăn không biết no, ngủ không biết chán, đánh cờ với nhau khi mất quân, bị chiếu bí đòi đi lại, cãi nhau như mổ bò trên đình Hòn Tầu...”, “gặp một em giao liên thành phố xinh như mộng nhưng bàn tay phải chỉ còn bốn ngón sau một trận dính mìn clây-mo, mắt con trai cứ nhớn nhác, tim véo von những lời có cánh…” mà còn là những ngày sống chết có nhau, cùng chịu đựng những trận bom Mỹ rải thảm, nổ ầm ầm trên đầu, hay cùng nhau vượt qua những ổ phục kích của địch trên quốc lộ để xuống vùng sâu gặp dân, gặp cơ sở cách mạng khai thác tài liệu viết văn, viết báo.

Chính trong những ngày tháng ấy, Nguyễn Khắc Phục đã viết được nhiều bài bút ký, nhiều bài thơ và sau này còn viết cả kịch và tiểu thuyết về vùng đất này, được cán bộ, chiến sĩ ở Quảng Đà yêu mến. Hai bài thơ “Nhân dân tin yêu” và “Đà Nẵng - Thành phố rốc-két, thành phố tâm hồn du kích” của Nguyễn Khắc Phục được in trong nhiều tuyển tập thơ về Đất Quảng.

Còn tôi, cũng trong những ngày tháng ấy đã viết được bài thơ “Gửi dòng sông thân yêu” về dòng sông Thu Bồn, được in trong “Tuyển tập thơ miền Trung thế kỷ XX” cùng thơ của Phục và nhiều tác giả khác. Có lẽ vì thế, khi Đặc Khu ủy Quảng Đà kỷ niệm 50 ngày thành lập, nguyên Bí thư Đặc Khu ủy Trần Thận đã gửi thư mời Nguyễn Khắc Phục và tôi, hai nhà văn, nhà báo không sinh ra trên đất Quảng nhưng được coi là người con đất Quảng về dự…

Năm 1974, tôi và Nguyễn Khắc Phục lại cùng nhau xuống Quảng Đà. Lần này chúng tôi về công tác tại Ban đấu tranh chính trị của thành phố Đà Nẵng đóng dưới vùng sâu huyện Duy Xuyên, để gặp gỡ một số trí thức, học sinh, sinh viên là cơ sở cách mạng từ nội thành ra. Ngoài Nguyễn Khắc Phục và tôi còn có cả nhà thơ Phan Duy Nhân, một thủ lĩnh của phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên, và phật tử thành phố Đà Nẵng, một tù nhân chính trị ở Côn Đảo vừa được chính quyền Sài Gòn trao trả cho Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng từ Khu ủy V xuống. Chúng tôi gặp Nguyễn Đức Hùng, một học sinh tú tài của trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, là cơ sở hoạt động cách mạng bị lộ được rút ra vùng giải phóng.

Chính vì thế, tháng 7-2015, khi Nguyễn Đức Hùng từ Đà Nẵng ra Hà Nội tìm tôi và Nguyễn Khắc Phục để đề nghị chúng tôi viết bài cho tập sách "Phan Duy Nhân – Thơ & Đời” sắp xuất bản, như một món quà chứa đựng tình cảm của bạn bè thân hữu tặng anh Phan Duy Nhân, tức Nguyễn Chính, nguyên Quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, sau ba lần mổ tim lại bị xuất huyết não, bệnh rất nặng, phải nằm một chỗ. Không ngờ khi ấy Nguyễn Khắc Phục đã nhận lời viết bài nhưng lại bị đau, phải vào Viện Quân y 103 ở Hà Đông, không viết được. Tôi và Hùng vào thăm, bàng hoàng biết Phục bị ung thư phổi!

Từ đó đến nay, Nguyễn Khắc Phục đã trải qua không biết bao nhiêu lần xạ trị, kiên cường và lạc quan chống lại căn bệnh hiểm nghèo này để giành lấy sự sống. Các y, bác sĩ cùng gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp… hết lòng thương yêu, chăm sóc, chữa chạy cho Phục, động viên, thăm hỏi, giúp sức và cầu mong cho Phục mạnh khỏe, dù ai cũng biết ngày ra đi của Phục mỗi lúc một gần. Còn Phục, biết mình bị bệnh hiểm nghèo nhưng lúc nào cũng lạc quan, chuẩn bị trước cho việc ra đi của mình.

Mỗi lần tôi cùng vợ hay cùng con trai Đà Trang làm ở báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh vào thăm, đều thấy bệnh tình của Phục biến chuyển mỗi lúc một khác. Lúc thì Phục quá mệt, không ngồi dậy được. Lúc thì Phục tỉnh táo, ngồi hàng tiếng nói chuyện với tôi, kể với tôi về dự định in toàn bộ các tác phẩm đã viết để lại cho người thân, bạn bè và người đọc, dưới tiêu đề “N.K.P gửi lại”… Tôi có cảm giác cuộc sống của Phục giờ đây như ngọn đèn dầu, bùng lên đấy, nhưng vẫn là lắt lay trước gió. 

Hôm cuốn sách “Phan Duy Nhân - Thơ & Đời” được xuất bản, Nguyễn Đức Hùng từ Đà Nẵng ra Hà Nội cùng tôi tổ chức buổi gặp gỡ các bạn nhà văn, nhà báo tại Tòa soạn báo Đại Đoàn Kết, để giới thiệu cuốn sách này, tôi và Hùng lại vào thăm và báo tin để Phục biết. Phục nói nhất định sẽ ra dự và có vài lời về Phan Duy Nhân vì đã không viết được bài cho cuốn sách này. Nhưng rồi Phục không ra được vì đúng lúc đó lại phải nằm một chỗ để truyền hóa chất.

Tết vừa rồi, tôi cùng mẹ và hai em gái của Anh hùng - liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm vào thăm Phục, Phục khỏe mạnh, tươi tắn khoe mình chưa thể “đi” được vì còn nhiều việc dang dở đòi Phục ở lại. Phục nói, bác sĩ bảo bệnh của Phục khó có thể kéo dài quá 6 tháng, nhưng nay đã được 8 tháng rồi, như thế là đã có lãi 2 tháng. Phục ký tặng mẹ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm cuốn tiểu thuyết “Hỗn Độn” mà Phục mới hoàn thành bản thảo và xuất bản trong thời gian nằm viện, rồi quay sang hỏi tôi đã đọc xong quyển sách này và có thấy “hỗn độn” không? Phục bảo hy vọng sẽ làm kịp “N.K.P gửi lại” trước khi Phục ra đi.

Đầu tháng 4-2016, tôi có việc gia đình nên phải vào thành phố Hồ Chí Minh một thời gian, mang theo nỗi lo không biết khi trở lại Hà Nội có còn được gặp Phục nữa không. Tôi đến thăm anh Phan Duy Nhân vẫn bị bệnh nặng phải nằm một chỗ. Gặp tôi, anh Nhân hỏi ngay về bệnh tình của Phục. Anh dặn tôi khi ra Hà Nội thế nào cũng phải vào thăm Phục chuyển lời của anh chúc Phục mau khỏe và thông cảm với anh vì anh không thể ra thăm Phục được.

Tôi gọi điện ra cho Trang Thanh, vợ Phục để chuyển lời hỏi thăm của anh Phan Duy Nhân tới Phục và hỏi xem tình hình sức khỏe của Phục thế nào, liệu Phục có còn chờ tôi ra không? Thanh nói anh Phục vẫn tỉnh táo, bác sĩ dự đoán vài tháng nữa vẫn không sao, anh ra vẫn kịp. Cách đây nửa tháng tôi lại gọi điện cho Thanh, Thanh nói anh Phục bắt đầu yếu dần, không đi lại được nhưng vẫn rất tỉnh táo, có bữa còn đánh được hai ván cờ với bệnh nhân cùng phòng.

Hôm nhà thơ, họa sĩ Trần Nhương thay mặt một số anh em thân hữu của Phục, trong đó có tôi, lập Quỹ hỗ trợ Nguyễn Khắc Phục và đưa tin trên mạng trannhuong.com, tôi gọi điện cho Thanh, Thanh bảo anh Phục rất vui, nói đây có lẽ là quỹ tài trợ oách nhất quả đất!

Nào ngờ, tối qua, 19-5-2016, Nguyễn Đức Hùng ra Hà Nội, vào thăm Nguyễn Khắc Phục rồi gọi điện cho tôi báo tin: “Anh Phục đã yếu lắm rồi, chắc không qua nổi! Em vào thăm, giới thiệu tên, hình như anh Phục vẫn nhận ra nên khe khẽ nắm tay em, mắt hơi chớp chớp nhưng không còn tự thở được nữa rồi!...”.

Sáng sớm hôm nay, Trang Thanh, vợ Phục và nhà thơ, họa sĩ Trần Nhương nhắn tin cho tôi Nguyễn Khắc Phục đã về cõi vĩnh hằng. Buổi trưa 20-5, một số bạn bè thân hữu của Nguyễn Khắc Phục tại thành phố Hồ Chí Minh gặp nhau, chia buồn trước tin Nguyễn Khắc Phục đi xa. Nhà văn Triệu Phong mặc áo đen để tang Nguyễn Khắc Phục, bùi ngùi kể lại những kỷ niệm không quên với người anh, người bạn văn chương mà Triệu Phong vô cùng yêu mến.

Nguyễn Khắc Phục ra đi để lại một kho tàng văn chương đồ sộ, gồm 13 cuốn tiểu thuyết, 12 kịch bản phim truyện, 70 kịch bản sân khấu, mấy chục kịch bản cho các lễ hội, trong đó có kịch bản khai mạc và bế mạc Lễ hội 1000 năm Thăng Long, hàng chục bài thơ và trường ca… Tất cả các tác phẩm của Phục đều đã được xuất bản, được dựng thành phim, được đưa lên sân khấu. Nhiều tác phẩm của Phục gây tiếng vang như “Học phí trả bằng máu”, “Thăng Long kí”, “Ngôi đền”, “Bay qua cõi chết”… Mấy ai có được một sự nghiệp như thế!

Nhớ tới Nguyễn Khắc Phục là nhớ tới tấm lòng, tình yêu và tâm huyết của Phục không chỉ dành cho gia đình, bạn bè, người thân mà còn qua từng trang viết Phục để lại cho cuộc đời này.

Phục ơi, hãy thanh thản về nơi vĩnh hằng!

TP Hồ Chí Minh đêm 20-5-2016.

Dương Đức Quảng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.