Ông Acsimet của điện ảnh Bưng biền

Giữa cuộc chiến sinh tử; giữa vùng nước mặn sình lầy mênh mông của Đồng Tháp Mười, không nước ngọt, không điện, không phòng lạnh, những thước phim ra đời: “Trận Mộc Hóa”, “Chiến dịch Trà Vinh”, “Trận La Ban”, “Hết đời đế quốc”... Câu chuyện làm phim của ông và đồng đội khiến bạn bè quốc tế nghiêng mình cảm phục khi chạm vào thước phim cũ kỹ thấm đẫm máu và nước mắt, mở đầu điện ảnh Bưng biền - thuở bình minh của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam.

1.Tháng 9-1947, chi đội 14 do Khu bộ trưởng Trần Văn Trà trực tiếp chỉ huy, phục kích đánh đoàn xe quân sự của địch tại Giồng Dứa (Cai Lậy, Mỹ Tho). Người chụp hình trong trận đánh này là Mai Lộc thuộc tổ Nhiếp ảnh Khu 8. Ông dũng cảm xông trận và chụp được rất nhiều ảnh sống động như: Quân ta xung phong, đoàn xe của địch bị bốc cháy, quân ta bắt tên đại tá công binh La Fouge.

Sau trận đó, tổ Nhiếp ảnh Khu 8 tổ chức triển lãm. Ai ai cũng phấn khởi, tự hào khi nghe đồng chí Mai Lộc thuyết minh về những bức ảnh, thuật lại trận đánh oai hùng của quân ta. Đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Chính ủy Khu 8 buột miệng: “Giá mấy bức ảnh này cử động được thì sức động viên của nó đối với đồng bào và quân ta càng to lớn hơn”.

Nghe vậy, Mai Lộc liền thưa: “Dạ, những bức ảnh động đó được gọi là phim. Nếu cách mạng cần thì sẽ có người đứng ra đảm nhiệm tạo hình ảnh động đó”. Đồng chí Nguyễn Văn Vịnh hỏi dồn:

- Anh nói có người biết làm phim?

- Dạ, đó là anh Khương Mễ.

- Anh Khương Mễ có ở đây không?

- Thưa, anh đang công tác tại Ban Tuyên truyền Thủ Dầu Một ở Khu 7. Nếu Khu 8 xin Khương Mễ về chắc chắn ảnh sẽ tạo dựng ra ngành làm phim cho kháng chiến.

NSƯT Khương Mễ thời làm phim ở Khu 8.
NSƯT Khương Mễ thời làm phim ở Khu 8.

Vậy là Khương Mễ chuyển về Khu 8. Ngày 15-10-1947, Điện ảnh Bưng biền Khu 8 thành lập. Đó là một quyết định táo bạo nếu không nói rằng quá phiêu lưu. Bởi điện ảnh Việt Nam lúc ấy chỉ là con số không. Làm thế nào để có một cơ sở kỹ thuật điện ảnh trong một đầm lầy mênh mông, đồng khô cỏ cháy và ngập ngụa nước phèn?

Mỗi lần nhớ về những tháng năm gây dựng điện ảnh Bưng biền Khu 8, các nhà điện ảnh lão thành như An Sơn, Hồ Tây, Nguyễn Đảnh, Trương Thành Hỷ, Nguyễn Kế Nghiệp lại nghẹn ngào nhớ đến người anh cả Khương Mễ. Đó là tháng năm đầy gian nan, khốn khó mà họ phải đánh đổi bằng máu để làm nên những thước phim lịch sử.

Được cấp 300 ngàn tiền Đông Dương ngân hàng, Khương Mễ nhận nhiệm vụ mang số tiền lớn ấy ra tận Sài Gòn – trở lại sào huyệt của địch – để mua đồ kỹ thuật. Thời gian ông tham gia nhóm “Người Việt Nam làm phim” của Antoine Giàu ở Sài Gòn (quay 1939-1940) đã cho ông vốn liếng nhất định để làm phim. Gặp lại bạn học Nguyễn Văn Dĩ ở Sài Gòn, hai người mừng vui khôn xiết.

- Ở bưng biền đang đánh giặc mà tụi mày cũng làm phim được à?

- Được chớ. Mình làm cho mình, cho cách mạng. Mai mốt giải phóng, con cháu còn biết ngày xưa cha ông nó đánh giặc hào hùng ra sao.

Nghe Khương Mễ nói, Nguyễn Văn Dĩ sẵn sàng giúp đỡ người bạn thân, nhanh chóng liên lạc sang Paris mua sắm máy móc. Nguyễn Văn Dĩ tìm căn nhà kho tại sân bóng đá vườn Tao Đàn để lập trụ sở liên lạc và chứa máy móc cho Việt Minh. Hai tháng sau, hàng về. 

Khương Mễ đóng vai một nhà tư sản tức tốc ra Sài Gòn. Tại đây ông đóng giả là nhân công rồi cùng Nguyễn Văn Dĩ tháo rời máy móc, giả là hàng nội địa để đánh lừa các trạm kiểm soát Phú Lâm – Cai Lậy. Một, hai lần trót lọt.

Nhưng trạm yết hầu Phú Lâm, cửa ngõ Sài Gòn là cửa ải sinh tử. Mỗi lần qua cửa ải này, chị Cảnh, chị Ngọc luôn sử dụng chiêu thức “mỹ nhân kế”. Chị Cảnh bỏ bùa được tên sếp bót Phú Lâm. Hắn mê mệt cô thiếu nữ ăn vận tân thời, nói tiếng Tây như gió. 

Lần khác, xe từ chiến khu đến trạm Phú Lâm, như thường lệ, chị Ngọc duyên dáng trong tà áo dài bước xuống chào hỏi nhẹ nhàng. Địch bắt chị tra hỏi và khám xét thì tìm thấy một bức thư ngắn của Mai Lộc gửi cho Nguyễn Văn Dĩ. Địch tức tốc bắt chị Ngọc và Nguyễn Văn Dĩ vào bót catinat, tra tấn dã man.

Máu của đồng đội đã đổ. Khương Mễ quyết không phụ sự hy sinh của họ. Và chỉ từ cuốn sách “Cinéma Amanach Prisma”, trí sáng tạo tuyệt vời của ông đã khai sáng cho một nền điện ảnh ra đời trong lửa đạn.

2. Ngày còn đi học, cậu bé của mảnh đất Đồng Tháp đã bộc lộ được tài năng và óc sáng tạo. Giờ thủ công, thầy giáo thường không chấm điểm cho Khương Mễ vì nghĩ rằng vật dụng như chiếc đồng hồ, hộp đựng bút… trong bài tập thầy giao về nhà, cậu học trò này chắc chắn nhờ thợ mộc làm. Trong khốn khó chiến tranh, tài lẻ ấy trở thành cứu tinh.

Nhận lô hàng đầu tiên từ Paris gửi về, chưa kịp vui mừng, Khương Mễ tá hỏa khi chiếc máy tráng phim không hề giống chiếc máy hồi ông còn làm phim ở Sài Gòn. Hóa ra đây là chiếc máy tráng phim cải tiến mới sản xuất của Pháp. Không biết dùng như thế nào giữa đầm lầy phèn chua, chẳng lẽ bó tay? Ông quyết định cải tạo. Toàn bộ chiếc máy ông chỉ lấy có thùng tráng bằng inox. Ông tiếp tục phát minh ra một cái guồng quay như cái sa quay sợi dệt vải có nắp đậy kín, có lỗ cho thuốc tráng phim vào.

Phần tráng phim càng gian nan hơn khi chỉ có một ít loại phim 8 ly – loại phim đòi hỏi bài thuốc hết sức phức tạp nên Khương Mễ phải chong đèn mù u đọc cuốn “Cinema Amanach Prisma” suốt đêm mới tìm ra được cách pha chế thuốc.

Phải 5 lần tráng phim với 5 bài thuốc khác nhau mới cho ra được phim dương bản để chiếu luôn. Nhưng mặt phim bị rạn, phải tráng phim trong phòng lạnh thì phim mới mịn. Nhưng làm sao có được cái phòng lạnh ở giữa Đồng Tháp Mười? Chuyện hoang tưởng! Cả Khương Mễ và đồng đội rơi vào bế tắc. Ông thẫn thờ cả ngày, đi vào đi ra, mất ăn mất ngủ.

NSƯT Khương Mễ và vợ - nghệ sĩ Tuyết Trinh trong những năm tháng cuối đời.
NSƯT Khương Mễ và vợ - nghệ sĩ Tuyết Trinh trong những năm tháng cuối đời.

Đêm nọ, khi anh em đang say giấc, ông vùng dậy. Tiếng “Ơ-rê-ca! Ơ-rê-ca!” (Tìm ra rồi! Tìm ra rồi!) reo trong đầu. Ông sung sướng nhảy cẫng đánh thức tất cả mọi người. Cái phòng lạnh “made in Khương Mễ” là một cái thùng dài tầm 1 mét, chậu nước thuốc tráng phim đặt trên lớp mùn cưa ủ nước đá. Hơi lạnh tỏa ra sẽ tráng phim thành công. Vậy là anh em lại bơi xuồng ra tận Ấp Bắc, lên Mỹ Tho mua nước đá.

Mẩu phim thời sự “Trường Quân chính Khu 8” được coi là khai sinh vẻ vang cho điện ảnh Bưng biền. Nối tiếp theo là các phim thời sự về hoạt động kháng chiến của quân và dân Khu 8, trong đó hoành tráng nhất phải kể đến phim về nhân dân Đồng Tháp Mười đắp cạn kênh Dương Văn Dương ngăn tàu giặc. Đến tháng 8-1948, Tổ Nhiếp – Điện ảnh Khu 8 đưa phóng viên điện ảnh của mình xuất trận, khi Tiểu đoàn 307 tổ chức đánh trận Mộc Hóa theo chiến thuật công đồn đa viện, làm nên những thước phim hào hùng về Tiểu đoàn 307 dũng mãnh.

Đồng chí Lê Duẩn xem xong gợi ý rằng làm sao có được nhiều bản phim lưu động chiếu đi nhiều nơi để động viên tinh thần yêu nước và tôn vinh chiến công của Tiểu đoàn 307 thì hay quá. Khương Mễ coi gợi ý ấy như mệnh lệnh tối cao.

Ông ngày đêm mày mò và một lần nữa, “nhà máy in phim” tiện dụng được ông sáng chế từ cái máy quay cổ lỗ sĩ và chiếc hộp sắt chỉ có toàn dây cót ra đời. Ban ngày dùng ánh sáng trời, ban đêm dùng đèn măng – xông để in phim. Nhờ sự sáng tạo đó mà ông in được rất nhiều bản phim “Trận Mộc Hóa” để gửi ra Trung ương, Khu 7, Khu 9…

Về sau, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Hãng Phim truyện Việt Nam, tiếp tục cho ra đời những bộ phim gây tiếng vang như: “Cô Nhíp”, “Khói trắng”, “Chiều sâu lòng đất”, “Vợ chồng A Phủ”, “Hai người lính”…

Năm 1997, khi Khương Mễ đã 81 tuổi, Hội Điện ảnh Pháp mời ông sang tham dự Liên hoan phim tại Amiens, miền Nam nước Pháp, với tên gọi thân mật “ông già điện ảnh”. Ông xúc động khi mình trở thành một trong hai nhân vật chính được tôn vinh tại Liên hoan phim quốc tế lần thứ 17 này. Người Pháp chiếu những bộ phim mà ông và đồng đội thực hiện khi còn ở Đồng Tháp Mười. Khỏi phải nói, các phóng viên và người làm điện ảnh Pháp đã ngạc nhiên và cảm phục trước tình yêu điện ảnh và sự sáng tạo kỳ diệu của Khương Mễ như thế nào.

Ông ra đi đã hơn 10 năm nhưng trong ký ức của bà Khương Mỹ Lý, hình ảnh cha và đồng đội cặm cụi làm việc trong chiếc mùng để tránh đàn muỗi dày đặc bâu vào phim vẫn còn vẹn nguyên trong trí nhớ. Những kỷ vật của cha, bà trao lại cho Nhà Bảo tàng điện ảnh của nghệ sĩ Quang Đạt. Để ngày ngày bao thế hệ nghệ sĩ đến tham quan, tưởng nhớ đến “ông Acsimet” của điện ảnh Bưng biền thuở nào.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.