Nửa thế kỷ "Tình biển nghĩa sông"

Nhà thơ Hoàng Thoại Châu (tức nhà báo Ba Thợ Tiện) vừa ra mắt tuyển tập "Tình biển nghĩa sông" - những bài thơ được ông viết trong những năm tháng khói lửa chiến tranh. Sau đúng 50 năm, tập thơ yêu nước này mới được "khai sinh" đàng hoàng để chính thức nằm trong tay độc giả gần xa.

"Tình biển nghĩa sông" được in lần đầu vào tháng 9-1969. Nhưng là in... chui! Đây là tập thơ đầu tay của tác giả nhưng rồi lại biến thành tập thứ hai có mặt trên thi đàn. Suốt nửa thế kỷ, số phận tập thơ này ẩn chứa vô số điều ly kỳ. Hơn 30 bài thơ là hơn 30 tiếng lòng với những trăn trở, đau đáu rất đỗi chân thành, tha thiết của người thanh niên yêu nước khi sống trong cảnh chiến chinh.

Quá khứ và hiện tại, làng quê và thành thị, chốn thiền định và nơi trần tục… như mảng màu đối nghịch để làm bật lên khát vọng hòa bình, tình nghĩa đồng bào, nước non. Biết là liều nhưng Hoàng Thoại Châu vẫn nuôi hy vọng khi mang tập thơ đến Nha Kiểm duyệt tại Sài Gòn xin giấy phép in "Tình biển nghĩa sông".

Mới xem qua bản thảo, người đại diện Nha Kiểm duyệt là nhà văn Võ Phiến mời ngay vị tu sĩ trẻ tuổi của chùa Ấn Quang vào gặp: "Chúng tôi trân trọng tác phẩm của Đại đức nhưng chúng tôi rất tiếc. Nếu Đại đức gởi cho chúng tôi một tác phẩm nhẹ đô hơn, tôi sẽ ký ngay. Ký tại chỗ. Đã không đồng ý với nhạc Trịnh Công Sơn thì không có lý gì chúng tôi lại cho in thơ của Hoàng Thoại Châu".

Nhà thơ Hoàng Thoại Châu.
Nhà thơ Hoàng Thoại Châu.

Nghe theo lời khuyên của nhà văn Võ Phiến, Hoàng Thoại Châu tập hợp ngay các bài thơ được viết từ thuở học trò thành tuyển tập "Áo trắng ngày xưa". Đương nhiên, tập thơ tình đầy mộng mơ và hoa bướm này nhanh chóng được cấp phép. "Áo trắng ngày xưa" đúng chuẩn là tuyển tập thơ mang hơi hướm Thơ Mới, đầy tình tự, lãng mạn.

Tuy vậy, ngay từ thuở khoác áo thư sinh, thơ tình Hoàng Thoại Châu đã nặng nợ quê hương, thấm thía nỗi đau mất nước. "Ngày xưa áo trắng ngây thơ/ Em ngoan tuổi mộng, anh chờ trắng canh/ Rồi tang thương ngập quê lành/ Anh đi. Từ đó… tan tành mơ hoa!". "Quê hương mình quá điêu tàn/ Nên tim anh hận như vàng lá thu/ Xóm thôn làng nước hoang vu/ Thương nhau xin hẹn… cho dù kiếp sau".

Song chí trai đâu thể thỏa khi tiếng nói của thế hệ mình bị cấm đoán, ngăn chia. "Tình biển nghĩa sông" không thể xuất bản vẫn là điều mà Hoàng Thoại Châu day dứt. Một lần lang thang trên đường, ông nhìn lên các số nhà, bỗng thấy cạnh số nhà 48 là số nhà 48 bis. Một ý tưởng táo bạo lóe lên. Lợi dụng vào số cấp phép của "Áo trắng ngày xưa", ông thêm vào chữ "bis" phía sau, thế là có giấy phép lậu để in "Tình biển nghĩa sông".

Ngày in sách, ông lén đưa thêm vào bản thảo bài "Mặt trời ngủ yên" - bài thơ thể hiện kín đáo nỗi đau của một người con miền Nam khi hay tin Bác Hồ qua đời: "Vũ trụ chuyển mình/ Địa cầu rung động/ Để báo hiệu sau bảy mươi chín vòng quay/ Bây giờ/ Ba - chín - sáu - chín/ Mặt trời ngủ yên". Tập thơ ra đời đã tạo nên tiếng vang lớn bởi những câu thơ mộc mạc, giản dị như ca dao mà tha thiết, chân thành, lay động lương tri.

Số phận ly kỳ của tập thơ này chưa dừng lại ở đó. Đã in chui, vậy mà Hoàng Thoại Châu vẫn tỉnh rụi đem "Tình biển nghĩa sông" dự thi "Giải Văn học - Nghệ thuật 1967-1969". Đây là giải quốc gia với dàn giám khảo gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình đình đám của miền Nam lúc bấy giờ như nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân...

Ngày nhận tin tác phẩm của mình đoạt giải nhất cùng với tuyển thơ "Lời gửi cây bông vải" của Trần Tuấn Kiệt, Hoàng Thoại Châu vừa mừng vừa run. Lên nhận giải mà chàng thanh niên Hoàng Thoại Châu cứ nơm nớp sợ người ta phát hiện giấy phép gian lận.

Là giám khảo hạng mục Thi ca, nhà thơ Vũ Hoàng Chương nhận xét những câu thơ trong "Tình biển nghĩa sông" mượt mà như lụa và xót xa như dao cắt. Đơn cử như câu: "Hỏi em hoa bưởi còn cài/ Môi hồng còn thắm, mắt ngài còn xanh/ Cúi đầu chẳng trả lời anh/ Em che mặt khóc bởi vành khăn tang/ … Má em xin chín hồng đào/ Môi em xin ngọt cho cao cánh diều/ Thương nhau kể chuyện nhiễu điều/ Máu hồng nửa giọt, hơn nhiều nước ao". Sẵn dịp hạnh ngộ tại buổi trao giải thưởng, Vũ Hoàng Chương đã vung bút tặng tác giả "Tình biển nghĩa sông" mấy câu: "Thêm dài tình biển nghĩa sông sâu (…)/ Một phen nhả ngọc phun châu/ Địa linh nhân kiệt từ lâu tiếng đồn/ Vang rền đợt sóng vũ môn/ Lắng nghe nước Việt thả hồn trong thơ".

Gia đình nhà thơ Hoàng Thoại Châu vốn có truyền thống cách mạng. Khi ông còn ẵm ngửa, cha đã theo phong trào Việt Minh, vắng nhà biền biệt. Lòng yêu nước tiếp nối các thế hệ anh em trong gia đình. Để tránh bị bắt đi quân dịch ở Điện Bàn, Quảng Nam, năm 1966 ông trốn vào Sài Gòn. Đô thành xa lạ với cậu thanh niên nghèo bỗng trở nên ấm áp khi cửa chùa Ấn Quang rộng mở cưu mang.

Chốn cửa thiền lánh xa trần thế vẫn không thoát khỏi nanh vuốt của chiến tranh. Khắp quê hương, từ thành thị đến nông thôn đều dậy lên tiếng khóc hờn oán, tang thương. Những ngày ấy, ông cất lại những bài thơ tình nông nổi thời đi học để cầm bút mà ghi lại bao phen điêu linh của dân tộc, mà tạc họa hình hài quê hương, thân phận nhân quần trong cơn binh lửa.

Đứng trước nỗi lầm than của muôn dân, Hoàng Thoại Châu tự nhận: "...Anh không là kẻ ban huấn từ/ Anh không nhân danh tu sĩ/ Anh không là nhà đại cách mạng xã hội/ ANH LÀ ANH/ Con người có chút tâm hồn, có tri giác/ Biết nhận thức, biết thương đau..." để chỉ mong "Xin xích gần nhau Đông - Tây bè bạn/ Nam - Bắc một nhà, đây đó có nhau/ Ruộng lúa trổ bông, mẹ hết ngậm ngùi/ Môi trẻ nhỏ thơm xuân hồng nắng mới…".

Sau khi "Tình biển nghĩa sông" được vinh danh, năm 1973, ông cho ra mắt tập "Tình biển nghĩa sông 2". Tiếng thơ lần này mạnh mẽ, quyết liệt, chỉ rõ sự tàn bạo của chiến tranh, dậy lên tinh thần phản kháng, thúc giục những người yêu nước xuống đường đấu tranh vì chính nghĩa, tự do dân chủ.

Đọc "Tình biển nghĩa sông", nhà văn Sơn Nam cảm khái: "Đã có thành kiến cho rằng thơ của lớp trẻ trong thời chiến thường giống nhau với ngôn ngữ khó hiểu, với thứ triết lý chán đời giả tạo của kẻ thích hưởng thụ, và nhất là thái độ kênh kiệu. Thơ của Hoàng Thoại Châu là sự trả lời rất xây dựng, để đánh tan thành kiến trên.

Tập thơ "Tình biển nghĩa sông" (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Tập thơ "Tình biển nghĩa sông" (NXB Hội Nhà văn, 2019).

Còn gì dễ thông cảm cho bằng tình yêu Tổ quốc, một Tổ quốc rất cụ thể với "Biển ôm vách đá, đèo hanh da trời". Còn gì đơn giản hơn tình đồng bào với lời dặn dò "Thiếu cơm thì được, thiếu thơ xin đừng". Tuổi trẻ đã nhận thức sâu sắc được vị trí của mình: "...Hỏi có tuổi trẻ nào phải chịu nhọc nhằn như tuổi trẻ Việt Nam/ Mười năm/ Hai mươi năm/ Rồi ba mươi năm/ Chưa một lần bình yên cho đỉnh hồn ngơi nghỉ/ Chưa một lần bình yên cho đỉnh nhớ tròn thương". Phải làm gì? Câu trả lời không dành riêng cho kẻ chuyên làm chính trị soạn thảo...".

"Tình biển nghĩa sông 2" do nhóm Hướng Dương - nhóm nhà văn, nhà thơ sinh viên chống ngoại xâm, đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc - xuất bản. Nhóm cũng in lại "Tình biển nghĩa sông 1" và coi hai tập thơ như một phần tuyên ngôn của nhóm. Cố nhiên, tất cả đều in chui.

Bên cạnh những cái tên nổi bật như Phan Viên Hoài, Hàng Chức Nguyên, Huỳnh Ngọc Trảng… thì Hoàng Thoại Châu cũng góp phần làm nên linh hồn của nhóm. Nhóm thường xuyên tụ họp để cùng nhau ngâm thơ, đọc văn hay hát vang những bài ca tranh đấu được thế hệ học sinh, sinh viên hưởng ứng lúc bấy giờ như "Dậy mà đi", "Người mẹ Bàn Cờ"…

Đầu 1974, nhóm Hướng Dương tổ chức buổi ra mắt tập truyện ngắn "Những trái tim hồng" tại quán cà phê Mù U, quận Tân Bình. Những sinh viên yêu nước không hề biết buổi họp mặt đã bị cảnh sát Việt Nam Cộng hòa theo dõi. Hoàng Thoại Châu cùng hơn 20 gương mặt cộm cán của nhóm Hướng Dương bị bắt. Dùng đủ đòn tra tấn dã man, cảnh sát cũng không khai thác được thêm gì.

Với những cuốn truyện, thơ văn yêu nước, chính quyền quy nhóm sinh viên vào tội phổ biến, tàng trữ, lưu hành ấn loát phẩm và tài liệu có hại đến an ninh quốc gia rồi đày ra địa ngục trần gian Côn Đảo. Trong lao tù, những vần thơ yêu nước thương nòi của Hoàng Thoại Châu vẫn ra đời. Thơ như đốm lửa thắp sáng đêm đen đọa đày tù ngục, để chàng trai trẻ tin tưởng vào một ngày cờ tự do tung bay.

Những bài thơ trong hai tập "Tình biển nghĩa sông" 1, 2 và "Áo trắng ngày xưa" hồi ấy được ông tuyển lại trong cuốn sách "Tình biển nghĩa sông" (NXB Hội Nhà văn) lần này. Sau 50 năm, tập thơ mới chính thức có tấm giấy phép thông hành đàng hoàng.

Cuộc đời Hoàng Thoại Châu là năm tháng đấu tranh không ngừng nghỉ. Sau giải phóng, được trả tự do, ông dùng ngòi bút để viết báo, viết phiếm luận chống lại thói hư tật xấu của người đời. Bút danh Ba Thợ Tiện xuất hiện từ đó. Nhưng với ông, năm tháng của những vần thơ "in chui in lủi" vẫn là kỷ niệm đầy tự hào để nhớ về. Bởi nó gắn với một thời thanh niên sôi nổi, đầy nhiệt thành và quả cảm.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.