Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm: Bậc anh hoa chiếu diệu

Chúng tôi ngồi trò chuyện dưới tán cây vú sữa trong khuôn viên nhà Từ đường dòng họ Đoàn làng Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Câu chuyện trở nên rôm rả hơn khi ông Đoàn Doãn Lực, hậu duệ đời thứ 18 của ông Đoàn Doãn Nghi - người được coi là Tổ họ Đoàn làng Giai Phạm hào hứng khoe: “Ông về thăm làng dịp này thật là may. Làng vừa khánh thành nhà thờ cụ Đoàn Thị Điểm”. Nói rồi ông Lực dừng ít giây rồi nói tiếp: “Họ Đoàn ở làng này đã hai mươi đời rồi ông ạ”.

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là người con thứ ba (sinh năm 1705) trong ba người con của cụ Đoàn Doãn Nghi nhưng lại là con gái một. Cha của bà, cụ Đoàn Doãn Nghi, đỗ Hương cống nhưng không muốn làm quan, cụ chỉ một mực xin được cho theo nghề dạy học và bốc thuốc.

Đoàn Doãn Lực cho biết thêm: “Cụ Nghi có hai người con trai là Đoàn Doãn Sỹ (không rõ năm sinh) và Đoàn Doãn Luân (sinh năm 1703). Cả hai người con trai này đều đỗ Hương cống như người cha nhưng khác người cha ở chỗ là nhận một chức quan nhỏ để giúp dân”.

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm: Bậc anh hoa chiếu diệu -0
Đền thờ nữ sĩ Đoàn Thị Điểm ở quê nhà, làng Giai Phạm, Yên Mỹ, Hưng Yên.

Sinh ra từ đất quê nhà, trong một gia đình học hành và nền nếp nên mặc dù là phận gái, nhưng với tư chất thông minh đặc biệt, ngay từ thuở nhỏ bà Đoàn Thị Điểm đã được học đủ Tứ Thư, Ngũ Kinh… lại được mẹ dạy cho học nữ công gia chánh nên đến năm 16 tuổi, bà đã nổi tiếng là một tài nữ trẻ tuổi.

Ông Đoàn Doãn Lực kể: “Dạo còn nhỏ, năm mới lên 6 tuổi thôi, cụ Điểm được người anh trai chăm chút dạy học và được đọc sách chữ Nho. Đâu như có lần khi đang học Sử ký Trung Hoa thì cụ Đoàn Doãn Luân dừng dạy học và lấy một câu bất kỳ trong Sử ký ra để ra câu đối, câu đối là: “Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiểm nhi trảm chi” nghĩa là: “Rắn trắng giữa đường, ông Quý (Lưu Bang) tuốt gươm mà chém”. Không một đắn đo, cô bé Điểm cũng ứng khẩu luôn bằng một câu trong Sử ký: “Hoàng long phụ chu, vũ ngưỡng thiên nhi thán viết” nghĩa là: “Rồng vàng đội thuyền, ông Vũ (Hạ Vũ) ngửa mặt lên trời mà than”. Người anh trai từ đó dành sức để dạy em.

Lại có hôm người anh thấy em gái đứng bên cửa sổ soi gương trang điểm nên đã đối: “Đối kính họa mi, nhứt điểm phiên thành lưỡng điểm”, nghĩa là “Trước gương vẽ mày, một Điểm hóa thành hai Điểm”. Cô em gái vẫn soi gương nhưng liền đáp lại: “Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân”, nghĩa là: “Tới ao xem trăng, một vừng tròn chuyển thành hai vừng”. Ông Đoàn Doãn Lực giảng giải thêm với tôi: “ Cái hay của hai câu đối này là sự tài tình ở đây là cảnh rất thực, dùng được hai tên người là Luân và Điểm với cảnh vẽ mày và xem trăng”.

Lại cũng có lần người anh đi từ ngoài vào nhà thấy em gái đang ngồi bên rổ kim chỉ bèn liền đọc: “Huynh lai đường thượng tầm song nguyệt”, nghĩa là: “Anh trai đến nhà trên tìm hai mặt trăng”. Cô em gái đáp lại: “Muội đáo song tiền tróc bán phong”, nghĩa là: “Em đến trước cửa sổ bắt nửa làn gió”.

Từ đó chuyện cô Điểm tài sắc, văn hay, học giỏi, đối đáp tài lan ra khắp chốn, lan đến tận kinh thành. Hay chuyện ấy mà Quan Thượng thư Lê Anh Tuấn, vốn quen biết Hương cống Đoàn Doãn Nghi, lại mến tài văn chương và đức hạnh của Đoàn Thị Điểm nên đã nhận bà làm con nuôi. Bà được đón về ở nhà của dưỡng phụ (cha nuôi) tại Trường Bích Câu, kinh thành Thăng Long. Đây là thời gian bà đọc được rất nhiều sách quý trong kho sách của quan Thượng thư, nên vốn kiến thức được mở rộng, lại tiếp xúc với nhiều người danh gia, khoa bảng vì vậy tiếng tăm về tài ứng đối văn chương, về hoa tay khéo léo của tài nữ họ Đoàn càng lan xa.

Trong thời gian ở Kinh thành, Đoàn Thị Điểm thường được cha nuôi dẫn đi thăm thú các nơi, cũng như đến chơi nhà những người bạn của cha nuôi. Quan Thượng Thư Lê Anh Tuấn rất tự hào về người con gái nuôi của mình. Và cũng muốn cô con gái nuôi được gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều bậc văn hay chữ tốt nơi kinh thành. Một lần cùng cha nuôi ra ngoại thành chơi, hai cha con tới làng Kẻ Mục nay là Hạ Đình Hà Nội. Hai cha con vào thăm nhà một người bạn của cha nuôi. Tại đây cô gái trẻ Đoàn Thị Điểm đã gặp cậu Đặng Trần Côn, là con nhà gia thế. Đặng Trần Côn là một thiếu niên anh tuấn, tài hoa, 15 tuổi đã đỗ Hương cống và kém cô Điểm hai tuổi.

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm: Bậc anh hoa chiếu diệu -1
Tác giả trò chuyện với các hậu duệ họ Đoàn dưới gốc cây vú sữa trong khuôn viên Từ đường họ Đoàn.

Đôi trẻ gặp nhau và thực sự mến tài học, tài thơ văn và tài ứng xử của nhau nên họ mau chóng nên thân. Cậu Hương cống Đặng Trần Côn lúc đó đã mến nhan sắc của cô Điểm, nên sau một thời gian quen nhau Đặng Trần Côn đã không giấu được tình cảm của mình với người con gái tài sắc. Cậu đã làm thơ và gửi đến Đoàn Thị Điểm. Nội dung bài thơ là bầy tỏ nỗi niềm, bày tỏ yêu thương. Nói cách khác là cậu Hương cống Đặng Trần Côn ngỏ ý cầu hôn. Ông Đoàn Doãn Lực cười cho hay: “Người đời đồn đại về câu chuyện tình giữa hai người”.

Đoàn Thị Điểm nhận được bài thơ “tỏ tình” của Đặng Trần Côn nhưng không viết thư trả lời, song có lần nói đùa với mấy chị em bạn bè: “Cái ông Cống miệng còn hơi sữa, làm thơ chưa xong mà lại đi nói chuyện vợ chồng”. Không ngờ câu nói đùa ấy lọt đến tai cậu Đặng Trần Côn, cậu tức lắm nhưng không nói lại mà từ đó cậu chăm chỉ đèn sách, miệt mài học hành, nhưng lại thi rớt ở kỳ thi Hội.

Thượng thư Lê Anh Tuấn rất muốn cô con gái nuôi được đem tài năng thi thố nên tiến cử cô vào phủ Chúa Trịnh để dạy học cho các cung nữ. Cô Điểm nhất mực từ chối, cô muốn dành tâm sức để giúp cha, giúp anh, chăm lo việc nhà.

Tôi vội hỏi lại ông Lực, ông Nam: “Câu chuyện “tình” với cậu Cống Đặng Trần Côn sau này thế nào?”. Cả hai cùng vui vẻ: “Tuy hai người không đến được với nhau nhưng tình bạn thì vẫn còn đó. Họ có dịp là gặp nhau trao đổi chuyện văn chương chữ nghĩa”.

Chuyện trao đổi văn chương chữ nghĩa giữa cô Điểm với cậu Côn có lẽ thường xuyên hơn là sau khi cả hai người đã yên bề gia thất. Họ là đôi bạn tri âm tri kỷ hay nói cách khác là rất hiểu nhau, hiểu văn chương của nhau và hiểu cả tâm tình tâm sự của nhau. Ông Đoàn Doãn Lực kể cho tôi hay: “Các cụ tôi kể lại: Vào đầu năm Cảnh Hưng nhà Lê Trung Hưng gặp buổi chiến tranh ly loạn, trai tráng bị bắt đi lính đánh giặc phương xa, gây cảnh biệt ly đau đớn cho nhiều gia đình.

Đúng vào thời điểm ly loạn ấy ông Đặng Trần Côn đem hết sức học bình sinh viết lên tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán theo thể Cổ nhạc phú, nghĩa là dạng phú hành văn. Nhớ tới người bạn tâm giao Đoàn Thị Điểm lúc này có chồng đang đi sứ bên Trung Quốc, gặp cảnh giặc giã nên đường về bị cắt. Biết cô Điểm đang ngày đêm trông ngóng chồng trở về và phần vì trước đây bị cô gái trẻ tài sắc tỏ ý xem thường mình nên đã gửi cho bà Đoàn Thị Điểm xem, ý chừng như ông Côn muốn nhắc bà Điểm là: “Bà đã xem thường tôi là lầm to”.

Đoàn Thị Điểm không để tâm tới chuyện xưa cũ, bà nhận tác phẩm rồi đọc say sưa, bà rất thán phục tài văn chương của Đặng Trần Côn. Nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn của một người đàn bà có chồng đi biền biệt nên bà rất đồng điệu với tâm hồn của “nàng chinh phụ” trong "Chinh phụ ngâm khúc".

Và như một “duyên phận”, bà Đoàn Thị Điểm đã để trí, để lực và để hết tài văn chương của mình để dịch "Chinh phụ ngâm khúc" từ chữ Hán sang chữ Nôm, chữ của người Việt, với mong muốn nỗi lòng người chinh phụ kia được bầy tỏ rộng rãi hơn.

Cái hay, cái tài của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là khi dịch bài phú chữ Hán sang chữ Nôm, bà không chỉ gửi gắm tâm trạng của mình vào đó, mà còn tìm cách để nó được ngân xa. Và cũng như Nguyễn Du, khi chuyển câu chuyện nàng Kiều trong "Đoạn trường tân thanh" bằng chữ Hán của Thanh Tâm tài nhân, Nguyễn Du đã sáng tác thành "Truyện Kiều" theo thể thơ lục bát của người Việt và bằng chữ Nôm cũng của người Việt, Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển bài phú thành thơ, thể thơ song thất lục bát, một thể thơ của người Việt.

Ví dụ như trong chữ Hán: Đặng Trần Côn viết: “Thiên địa phong trần”. Thì Đoàn Thị Điểm dịch chuyển thành câu thơ: “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. Hay câu: “Hồng nhan đa truân”. Thì Đoàn Thị Điểm dịch thành câu thơ: “Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”.

Chuyện còn dài, tôi đứng lên chào ông Lực, ông Nam, hẹn hai ông dịp tới lại về làng, rồi rảo chân ra viếng Đền thờ Đoàn Thị Điểm. Dưới nắng, màu đỏ của mái ngói mới ánh lên đỏ thắm. Trong đền, vàng soi dòng chữ “Anh hoa chiếu diệu” nói lên cuộc đời tài sắc vẹn toàn của bà.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.