NSƯT Mỹ Châu: Ngôi sao cải lương cách mạng

Không chỉ nổi danh qua các vở tuồng mang màu sắc hương xa, kiếm hiệp, NSƯT Mỹ Châu còn để lại ấn tượng đẹp trong lòng người ái mộ khi thể hiện thành công một số vai diễn ở đề tài lịch sử, truyền thống cách mạng.

Trước năm 1975, NSƯT Mỹ Châu có hàng loạt vai diễn “để đời” trong một số tuồng Cải lương mang màu sắc hương xa, kiếm hiệp như các nhân vật: Mai Thảo trong “Trinh nữ lầu xanh”, A Khắc Thiên Kiều trong “Người tình trên chiến trận”, Lý Thiên Kim trong “Kiếp nào có yêu nhau”, Nữ chúa Tọa Mã Sơn trong “Khi rừng mới sang thu” và nhiều vở tuồng khác nữa… Sau năm 1975, bà tiếp tục có những đóng góp đáng được trân trọng cho hoạt động sân khấu cải lương ở TP Hồ Chí Minh.

Sau khi được Ty Sân khấu thuộc Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định (thành lập sau 30/4/1975) lúc bấy giờ cấp quyết định cho phép hành nghề, NSƯT Mỹ Châu lần lượt cộng tác với các đơn vị cải lương: Sài Gòn 1, Sài Gòn 2, Trúc Giang, Thanh Nga, Văn công thành phố (nay là Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang) và tiếp tục khẳng định tài ca - diễn qua một số vở cải lương thuộc đề tài truyền thống cách mạng.

Bà đã tiếp tục để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả ái mộ khi thể hiện thành công nhiều vở tuồng có nội dung phản ánh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của quân và dân ta. Những vai diễn mà NSƯT Mỹ Châu được công chúng ấn tượng và nhắc đến nhiều ở thể tài này là: Hiếu trong vở “Khách sạn Hào Hoa” của tác giả Vũ Kim, do bộ đôi soạn giả Trần Hà và Điêu Huyền chuyển thể cải lương; nàng Hai trong vở “Nàng Hai Bến Nghé” của cố tác giả Ngọc Linh và Lan trong vở “Tìm lại cuộc đời" do Huy Lam, Hoàng Khâm và Điêu Huyền đồng tác giả. 

Trong vở diễn “Khách sạn Hào Hoa”, nữ cán bộ Hiếu được cấp trên giao nhiệm vụ giả đóng vai một cave (“Cavalière” trong tiếng pháp có nghĩa là “gái nhảy”, là các cô gái bán dâm trong các tụ điểm ăn chơi, được người Việt gọi tắt đi thành “cave” cho dễ đọc) trong khách sạn để trà trộn lấy tin tức từ các sĩ quan Mỹ.

Hiếu phải đối đầu với rất nhiều hiểm nguy và sự cô đơn, vì không chỉ chung quanh toàn là mật thám, nhân viên CIA, sĩ quan cao cấp của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ. Chỉ cần sơ sảy để lộ tông tích là Hiếu gặp nguy hiểm, có thể bị sát hại. Ngay cả người thân, bạn bè cũng không ai hiểu cho việc làm của Hiếu. Hiếu từng bị mẹ ruột chửi mắng, bị người yêu là Trung, một chiến sĩ cách mạng tạt ly rượu vào mặt tỏ vẻ khinh thường, nhiều người khác chửi thẳng.

Tâm lý của nhân vật Hiếu diễn biến khá phức tạp. Bên ngoài giả dạng là gái quán bar, nhưng bên trong là một chiến sĩ cách mạng, nên lúc nào Hiếu cũng phải giữ phẩm chất của người phụ nữ Á Đông. Nếu nghệ sĩ không có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng khó mà hóa thân nhân vật Hiếu một cách trọn vẹn. Có lúc Hiếu khảng khái, kiên cường thể hiện tư chất một chiến sĩ cách mạng, nhưng đôi khi cũng rất “mềm yếu” như những cô gái khác, cũng chất chứa nhiều nỗi niềm, với một trái tim đa sầu, đa cảm.

Tuy nhiên, với nét mặt trầm tĩnh, phong cách diễn chững chạc, chừng mực, NSƯT Mỹ Châu hóa thân vào vai Hiếu khá thuyết phục, tạo được thiện cảm với người xem, được giới nghề và công chúng tán thưởng nồng nhiệt.

NSƯT Mỹ Châu từng chia sẻ trên báo giới: “Tôi còn nhớ buổi phúc khảo vở “Khách sạn Hào Hoa”, sau khi màn đóng lại, đạo diễn Huỳnh Nga đã vào hậu trường hôn lên trán tôi. Vai cô Hiếu trong vở này thật sự để lại trong tôi nhiều cảm xúc”.

Giống như nhiều nhân vật nữ trong một số kịch bản của cố tác giả Ngọc Linh, nhân vật  nàng Hai trong vở cải lương “Nàng Hai Bến Nghé” là một phụ nữ đa tình và đa truân. Nàng bị quan lãnh binh cưỡng hôn, lại bị bọn tay sai gài bẫy vu cho tội ngoại tình, bị xử phạt thả bè chuối trôi sông, nhưng được cứu sống và sa vào tay quan ba người Pháp.

Lợi dụng vai trò mới của mình, nàng Hai đã tương kế tựu kế giúp nghĩa binh chiếm được đồn giặc Pháp. Nếu không phải là một nghệ sĩ có bản lĩnh ca - diễn tự tin, có sự đầu tư cho vai diễn thật nghiêm túc như NSƯT Mỹ Châu thì không thể nào hoàn thành vai diễn nàng Hai. Mỹ Châu đã khắc họa một nàng Hai luôn biết tiết chế trong hành động và cảm xúc.

NSƯT Mỹ Châu trong vở “Nàng hai Bến Nghé”.
NSƯT Mỹ Châu trong vở “Nàng hai Bến Nghé”. 

Nàng Hai của NSƯT Mỹ Châu có một chút gì đó “lạnh lùng” ở dáng vẻ bên ngoài bởi bao yêu thương, oán giận, căm thù đã được nàng nuốt vào trong. Đi bên cạnh tên quan ba (NSƯT Hùng Minh thủ diễn), nàng Hai - NSƯT Mỹ Châu trông rất trầm tĩnh, dù vẻ mặt chưa thoát khỏi nỗi kinh hoàng bởi cái lằn ranh giữa sự sống và cái chết mà nàng vừa trải qua.

Do vậy, chỉ cần một tiếng nói lớn của hắn ta cũng đủ cho nàng rùng mình khiếp sợ. Chỉ đến khi còn lại một mình, một bóng đối mặt với người yêu - Phạm Tri (do nghệ sĩ Tuấn Thanh đóng) trong nỗi nhớ thâm sâu, khi ấy, nàng Hai - Mỹ Châu mới rút cạn lòng mình: “Thảm thương thay cho số phận sao cứ mãi dập vùi. Sinh làm người sao lại quá khổ đau…”.

Lớp diễn này, NSƯT Mỹ Châu và nghệ sĩ Tuấn Thanh diễn xuất thật xúc động. Người về từ trong cõi nhớ và người còn sống hiện tại mà cứ ngỡ mình đã chết rồi vì những nỗi niềm khổ đau, oan trái không nguôi trong lòng. Chính giây phút như thực, như mơ ấy, hình ảnh người yêu đã tiếp thêm một phần nào sức mạnh cho nàng. Để rồi sau đó, trước mặt tên quan ba, nàng Hai không còn khiếp sợ như lúc ban đầu, mà ngược lại, tỏ ra phấn khởi, yêu đời với mục đích tạo dựng “lòng tin” cho tên quan ba nhằm tìm cách thoát khỏi tay giặc.

Trong vở “Nàng Hai Bến Nghé”, NSƯT Mỹ Châu chủ yếu tập trung khai thác và thể hiện chiều sâu tâm lý nhân vật nàng Hai thông qua từng cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, lời thoại, câu ca… Nhờ vậy mà nhân vật nàng Hai của NSƯT Mỹ Châu để lại trong lòng người xem nhiều xúc cảm trước số phận của một cô gái lắm nỗi truân chuyên.

Đối với vai Lan trong vở “Tìm lại cuộc đời” (kịch bản của Huy Lam, Hoàng Khâm và Điêu Huyền), NSƯT Mỹ Châu đã tạo nhiều xúc động cho công chúng trong lớp diễn Lan thuyết phục người yêu là Đại úy Huy Bình (NSƯT Thanh Tuấn đóng) quay về với cách mạng. Điều đáng trân trọng hơn, từ vai diễn này, NSƯT Mỹ Châu đã góp phần làm phong phú thêm cho âm nhạc cổ truyền Nam Bộ một thang âm cổ nhạc mang tên “dây Mỹ Châu”.

Thời điểm năm 1976 -1977, khi làm Trưởng ban nhạc cho Đoàn Cải lương Sài Gòn 2, lúc tập vở “Tìm lại cuộc đời”, vì muốn giữ giọng cho ngày phúc khảo, NSƯT Mỹ Châu nhờ nhạc sĩ Hoàng Thành hạ thấp dây đờn xuống một cung (tức một quãng 8).

Để thuận tiện cho việc khỏi phải chỉnh dây lên xuống mỗi khi NSƯT Mỹ Châu ca chung với NSƯT Thanh Tuấn (kép chánh của vở), nhạc sĩ Hoàng Thành đã nghiên cứu, lấy thanh gỗ nhỏ xíu chặn dây đàn để nhấn nhá chữ đờn từ “hò - đô” lên “hò - la” hợp với chất giọng của cặp đào kép danh tiếng này mà không cần phải chỉnh dây lên xuống. Không ngờ, sáng tạo của nhạc sĩ Hoàng Thành lại thành công.

Phúc khảo vở diễn, với giọng ca trầm buồn của NSƯT Mỹ Châu cùng tiếng đờn mùi mẫn với kiểu dây đờn vừa được nhạc sĩ Hoàng Thành sáng tạo, khiến các nghệ sĩ của Đoàn Sài Gòn 2 và nhiều người trong giới yêu thích. Khi đó, NSND Huỳnh Nga (đạo diễn của vở) yêu cầu NSƯT Mỹ Châu ca đúng kiểu dây đờn ấy vì nó đúng tâm trạng buồn thương của nhân vật. Kể từ đó, giới cổ nhạc miền Nam có thêm một kiểu dây đờn mới có tên gọi là “dây Mỹ Châu”.

Các nhân vật: nàng Hai, Lan và Hiếu không chỉ là điểm nhấn cho cuộc đời hoạt động nghệ thuật của NSƯT Mỹ Châu trên sân khấu cải lương; mà còn góp phần khơi gợi tinh thần yêu nước, yêu quê hương, yêu cách mạng trong quần chúng nhân dân một cách mạnh mẽ khi đất nước vừa thống nhất, còn đối mặt với nhiều khó khăn, phức tạp trong các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, đời sống văn hóa... Ngoài ra, nó còn thể hiện sự chín muồi trong nghệ thuật ca ngâm và diễn xuất của người nghệ sĩ xuất thân từ vùng đất Thủ Thừa (Long An).

Hơn 40 năm qua, các thế hệ nghệ sĩ đã thay nhau xây dựng hình tượng các nhân vật: nàng Hai, Hiếu và Lan, nhưng cho tới bây giờ, chưa có ai thoát khỏi nét diễn xuất ban đầu của NSƯT Mỹ Châu. Phải chăng các tác phẩm: “Nàng Hai Bến Nghé”, “Tìm lại cuộc đời”, “Khách sạn Hào Hoa” đã thể hiện giá trị tư tưởng và ý nghĩa sâu sắc, được xếp vào hàng “kinh điển” của sân khấu cải lương cách mạng; nên hình tượng các nhân vật: nàng Hai, Hiếu và Lan của NSƯT Mỹ Châu cũng hiện hữu trong tiềm thức của ái mộ cải lương hôm nay và cả mai sau.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.