NSND Xuân Hoạch: Tình nhị hồ vẫn yêu âm xưa

Tôi đã nghe tiếng đàn Nguyệt của NSND Xuân Hoạch từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước, trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Đó là suối âm thanh giòn giã vui tươi và say đắm lòng người. Sau này lại được nghe ông kéo nhị Hồ, hát xẩm ở sân khấu ngoài trời tại chợ Đồng Xuân, tôi càng ngỡ ngàng. Một cảm giác lạ lùng khi nghe tiếng nỉ non, trầm buồn từ tiếng nhị Hồ trên tay anh. Mộng mị làm sao...

"Cung thương lầu bậc ngũ âm"

Tôi muốn mượn câu thơ Kiều để nói về tài năng của NSND Xuân Hoạch, bởi lẽ ông không những thành thạo đàn Nguyệt, bộ môn được đào tạo chính thức tại Trường Đại học Âm nhạc, mà ông còn chơi giỏi cả một số cây đàn khác như Nhị, Hồ, Bầu, Đáy, Song Loan.

Đặc biệt riêng đàn Bầu hay đàn Nhị thì ông không hề được học một giờ nào trên lớp, chủ yếu tự học theo bạn và mày mò tìm hiểu. Với cây đàn Đáy thì lại có khác đôi chút, đúng với nghĩa không thầy đố mày làm nên, ông phải tìm đến nghệ nhân lừng danh Đinh Khắc Ban học hỏi.

Chơi đàn Đáy trong hát Ca trù đòi hỏi ngón nghề điêu luyện để có thế dẫn dụ ca nương mỗi khắc một đắm đuối hơn, đổ hột giọng ca thật nhuyễn cùng với lá phách buông đến độ ngây ngất lòng người. Vậy đó, khi đến diện kiến nghệ nhân Đinh Khắc Ban và nghe ông đàn, Xuân Hoạch bị cuốn hút và thao thức trong đêm vì tiếng đàn bí ẩn ấy.

NSND Xuân Hoạch với cây đàn Đáy cổ.
NSND Xuân Hoạch với cây đàn Đáy cổ.

Đó là những ngày tháng tập luyện đến chảy máu tay rồi mới đến độ bén tiếng đàn, theo đúng như ông thầy nhận xét. Đúng là âm thanh khi bén tiếng đàn chỉ là vỡ vạc ban đầu, sau đó trò được cầm đàn học bài bản, theo thầy trong canh hát. Thời gian trôi đi mươi năm, nghệ sĩ Xuân Hoạch được coi là người chân truyền cho tiếng đàn Đáy của ông thầy, nghệ nhân Đinh Khắc Ban. Ông đã được đệm cho nghệ nhân ca trù bậc thầy Kim Đức hát.

Ông còn nhớ có lần bà Kim Đức, qua tiếng đàn của mình, đã bay bổng thăng hoa hát làm lay động người nghe, với những âm sắc "đổ con kiến" như hát châu rơi trên mâm đồng. Sau đó bà ví von khen ngón đàn Xuân Hoạch rằng: "Gần như suối đổ trên vách núi xuống. Xa như tiếng hạc dội từ trên cao". Sau này khi nghệ nhân Đinh Khắc Ban "rửa tay gác kiếm" đã trao cây đàn gắn bó với cuộc rong chơi nửa thế kỷ của mình cho người kế vị chân truyền Xuân Hoạch.

Với tài năng đặc biệt, nghệ sĩ Xuân Hoạch đã cùng Nhà hát Ca múa nhạc Dân tộc Việt Nam đi khắp đó đây biểu diễn với cây đàn Nguyệt của mình. Dường như ông đã đi khắp đất nước, gieo những âm thanh đẹp tựa suối trong và cuộn trào như những lớp sóng biển tung bở cát trắng. Ông đã từng đoạt nhiều Huy chương Vàng (HCV) trong các kỳ hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc và đã được phong danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 1997.

Có lần ông còn tự sáng tác bản "Nhớ vùng quan họ" cho đàn Nguyệt để đi thi Hội diễn toàn quốc ở Cần Thơ. Bản nhạc này đã ghi dấu ấn kỷ niệm với HCV ngay tại quê hương sông nước miền Tây, trong phong trào đờn ca tài tử rầm rộ hàng trăm năm qua. Sau đó với cây đàn Đáy, ông cũng đoạt HCV vàng khi chơi bản độc tấu rất lạ tại cuộc thi ở Nhà hát lớn Hà Nội, vào năm 2005. Đến năm 2007, ông đã vinh dự được Nhà nước trao danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, ghi nhận công sức cống hiến gần nửa thế kỷ qua cho nền âm nhạc truyền thống của dân tộc.

Tiếng đàn của ông đã "bén ngọt" thực sự như cố nghệ nhân Đinh Khắc Ban khi tin tưởng trao cây đàn cho ông. Hiện trong tay ông còn có cây đàn Đáy cổ do nghệ nhân Quách Thị Hồ trao lại. Đó là những cổ cầm, báu vật của tiền nhân đi trước. Họ hy vọng, bắt đầu từ ngôi nhà này, tiếng đàn của Xuân Hoạch sẽ được truyền đi, và trao lại cho thế hệ sau tiếp nối. 

Tiếng tơ tiếng trúc hồn quê

Khi đến ngôi nhà NSND Xuân Hoạch ở ngõ Ao Phủ, kế gần bên là một căn phòng hòa nhạc được dựng bằng tranh tre nứa lá, tôi thấy ông đang hì hụi cùng vợ se những sợi tơ để làm dây đàn. Ông cười đúng như hôm đi hát xẩm đêm ở chợ Đồng Xuân, xởi lởi chân tình. Tôi thắc mắc hỏi sao không đi mua dây tơ công nghiệp về làm cho nó nhanh, đỡ phải nhọc công.

Ông thẽ thọt nói, rằng mình phải tự se tơ thành dây đàn mới để lại phần hồn trong nhịp phách, các cụ nói vậy. Thì ra cái âm sắc ám ảnh và ma mị của ông trên cây đàn Hồ là đây. Ông khoe một cây đàn mới làm từ vỏ quả bầu và một cây trúc làm cần đàn cho tôi xem. Xoay xoay cây đàn tre trúc cho tôi ngắm những họa tiết mà ông bỏ công đẽo gọt, khi lên dây đàn ông mới nói, tiếng dây tơ lạ lắm, nó như tiếng người ấy ông ạ.

Thế là anh kéo vĩ lấy tiếng trên cây đàn nhị Hồ, và đẩy một cung nhạc lướt nhẹ, rồi hát. Đó là âm sắc nhị hồ hợp với giọng hát trung trầm của ông. Giọng ông hơi khàn nhưng sao lại ấm áp mơ màng đến thế. Nó trôi trong tiếng nhị hồ. Tôi bỗng như nghe thấy âm vang tự trong lòng, khi thương cho nàng Kiều chơi đàn: "Lọt tai nghe suốt năm cung/ Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao".

Đó chỉ là những cung nhạc đọng lại ban đầu khi ông cho tôi nghe để biết thế nào là tiếng đàn dây tơ. Nó khác hẳn âm sắc của dây ni lông hay dây kim loại. Âm của dây tơ không ngân vang mà nó như tiếng người, khoan nhặt bày tỏ nỗi lòng.

NSND Xuân Hoạch biểu diễn trên sân khấu.
NSND Xuân Hoạch biểu diễn trên sân khấu.

Xưa các cụ chỉ chơi đàn dây tơ nên: "Tiếng đàn tiếng của tơ lòng. Tình ta khắc khoải đục trong mơ màng. Tiếng đàn tơ không mênh mang. Nỉ non, xót đắng bàng hoàng con tim". Nghệ sĩ Xuân Hoạch kể mình đã mất mấy năm trời để đi tìm lại tiếng dây tơ của ông cha xưa. Và, cũng đã mươi năm nay, anh chỉ chơi đàn dây tơ và dạy cho học trò hiểu về âm sắc, chứa đựng hồn người của nó. Ông truyền lại cho những nghệ sĩ trẻ với niềm hứng thú: "Mai sau dù có bao giờ. Đốt lò hương cũ se tơ phím này". Tôi ngồi nghe nghệ sĩ kể chuyện về dây đàn tơ như được đắm chìm vào âm thanh kỷ ảo của nó.

NSND Xuân Hoạch đưa cho tôi xem con tơ (cuộn tơ) mua được từ làng tơ lụa Nha Xá, tận Hà Nam để làm dây đàn như thế nào. Nói rồi ông lắp một dây tơ vừa làm xong lên chiếc đàn Đáy của nghệ nhân Đinh Khắc Ban để lại, dạo một khúc đàn để cho tôi thấm được cái âm trong đục của nó. Ông bất ngờ cất tiếng hát bài "Hồng hồng tuyết tuyết". Nét nhấn nhá của tơ lòng hiện rõ rệt, tôi cảm thấy tiếng đàn phụ họa cùng giọng ca, đẩy tâm hồn của người nghệ sĩ bay lên như hoa như tuyết, dào dạt cảm xúc.

Đúng là: "Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa". Chắc hẳn ai cũng nghĩ đại thi hào Nguyễn Du đã nói một cách chuẩn mực về âm sắc của dây đàn tơ. Trên tường nhà ông có tới chục chiếc đàn các loại đều lắp dây tơ do vợ chồng ông cùng làm. Nhiều người đã đến đặt ông làm và chỉnh âm. Dan díu với lụa tơ quả là con đường đưa âm thanh trở về với chính nó, xứ sở thiên đường âm nhạc về với cõi người.

Ông hát xẩm mơ

Nói đến dây đàn tơ là chạm đến hồn cốt một đời đeo đuổi của NSND Xuân Hoạch. Ngay cả đến những chuyên gia Trung Quốc có lần sang đây, khi nghe Xuân Hoạch chơi nhị hồ bỗng thốt lên rằng, đó chính âm nhạc Việt, thật độc đáo. Tiếng đàn nhị hồ nhẹ như nắng xuân vậy, ấm và dịu lắng trong lòng người nghe. Vậy mà hiện nay người ta vẫn chưa hồ hởi thu nạp thứ dây tơ ấy. Họ tìm đến ni lông hay dây kim loại cho bền và ngân vang, nhưng lại ồn ã vô cảm. Âm thanh lắng đọng của cha ông vẫn còn bị lãng quên.

Một đời lần hồi tìm kiếm, NSND Xuân Hoạch phô diễn tiếng đàn tơ làm nức lòng người, với những bài xẩm như "Mục hạ vô nhân", "Trăng sáng vườn chè". "Lỡ bước sang ngang" hay như "Tre xanh", "Về làng"…Nghe du dương đến thế. Chính nghệ sĩ Văn Thao đã từng nói, chơi đàn dây tơ rất khó, nếu không chăm chút tinh luyện tìm lại những âm sắc đồng quê xưa.

Còn NSND Xuân Hoạch luôn luôn nghĩ để mất đi những âm thanh của ông cha là có tội. Ông mơ rằng, đến một ngày nào đó mình sẽ hòa tấu trong một dàn nhạc dây dân tộc, chơi toàn bằng dây tơ. Ngày ấy không xa. Bởi lẽ sức quyến rũ của âm thanh dây tơ luôn chờ đợi ở đâu đó mà người nghệ sĩ sẽ tìm về.

Vương Tâm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.