NSND Triệu Trung Kiên: Cải lương phải chấp nhận những đổi mới, phá cách

NSND Triệu Trung Kiên là người quyết liệt và không ngừng tìm kiếm những ngôn ngữ mới cho cải lương để đưa cải lương đến gần hơn với công chúng. Mới đây, anh bắt tay cùng NSND Tống Toàn Thắng dựng vở cải lương và xiếc "Thượng Thiên Thánh Mẫu", với hy vọng sẽ tạo ra một món ăn hấp dẫn khán giả trẻ. Cải lương sẽ không chết, nếu những người nghệ sĩ luôn nỗ lực, sáng tạo, anh tin như vậy.

- Chúc mừng một cuộc kết hợp thú vị giữa cải lương và xiếc trong vở "Thượng Thiên Thánh Mẫu". Vì sao, lần này anh lại chọn câu chuyện về Mẫu Liễu Hạnh?

NSND Triệu Trung Kiên.
NSND Triệu Trung Kiên.

+ Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị Thánh Bất tử của Việt Nam, người khai sinh ra đạo Mẫu, một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đạo Mẫu khá thịnh hành trong đời sống nhưng có những dấu hiệu của sự biến tướng. Vở diễn này sẽ có những yếu tố của Đạo Mẫu, hát văn vốn từ trước đến nay chỉ được thể hiện trên sân khấu vuông thông thường, nhưng giờ có sự trợ lực của xiếc, nó sẽ được thăng hoa vì có những xử lý vượt ra ngoài hạn chế của sân khấu vuông, những pha bay bổng, ảo diệu, làm cho tác phẩm phong phú, đa dạng hơn. 

Những huyền tích về Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã ăn sâu vào tâm thức nhiều thế hệ người dân Việt Nam, vừa thấm đẫm chất thơ, vừa chuyển tải những triết lý nhân sinh cao đẹp. Vì thế, vở diễn sẽ có sự hòa quyện, đan xen, cộng hưởng giữa các giá trị phương Đông và phương Tây, tính dân tộc và đương đại.

- Khi khai thác về những nhân vật mang tính uy nghiêm, linh thiêng này, anh làm thế nào để giữ được sự thiêng liêng của câu chuyện mà vẫn hấp dẫn khán giả?

+ Khi dựng vở về các bậc tiền bối, một tiêu chí quan trọng là phải làm đúng và chuẩn, nếu có hư cấu cũng chỉ trong giới hạn có thể. Với vở diễn này, chúng tôi không đắm chìm vào việc thay đổi, sáng tạo về kịch bản mà chỉ cần kể đúng câu chuyện ấy thôi, tôi sẽ đi mạnh vào yếu tố thị giác, cảm nhận và lấy đó làm chất hấp dẫn thu hút khán giả. 

Tôi xác định khán giả đến với tác phẩm này là khán giả giải trí, người ta học hỏi, tiếp nhận lịch sử một cách nhẹ nhàng, mộc mạc. Câu chuyện sẽ đưa người xem trở về giai đoạn lịch sử trải dài từ triều Lê đến triều Nguyễn. Thánh Mẫu giáng trần với duyên nợ Ba Sinh, thương xót thế nhân với bao đau khổ loạn ly, chiến chinh và bệnh tật, Mẫu đã ba lần giáng hạ để cứu nhân độ thế, diệt kẻ tà gian bạo ngược.

- Xiếc và cải lương kết hợp với nhau liệu có làm mất đi bản sắc riêng của từng thể loại hay không, vì bây giờ, nhiều người lo nghệ thuật truyền thống đang bị phai màu?

+ Sự kết hợp này không làm mất đi màu sắc của từng loại hình mà thực tế, nó mang đến một không gian thưởng thức mới. Cải lương cứ kể ngôn ngữ cải lương và xiếc cứ diễn tả bằng ngôn ngữ của xiếc, một bên là lời ca, một bên là trò khéo và kỹ thuật, kỹ xảo. Nó chỉ là các phương thức thể hiện khác nhau và khi đặt cùng nhau để kể một câu chuyện nó sẽ nói cùng một ngôn ngữ. Sự kết hợp này không làm biến tướng gì cả, quan trọng là ê kíp sáng tạo muốn nó như thế nào. 

Như phần nhạc cải lương, tôi có ý định sẽ cải cách, trước đây chúng tôi dùng dàn nhạc cổ thì bây giờ sẽ là sự phối hợp giữa các nhạc cụ cổ và nhạc jazz. Tôi muốn đưa chất đương đại vào để lôi kéo khán giả trẻ. Thực tế, sự kết hợp này đang gây tranh cãi nhưng cải lương là một bộ môn nghệ thuật mở, nó không từ chối bất cứ thứ gì. Trải qua hàng trăm năm, nó biến chuyển, thay đổi, cải biến để thích nghi với môi trường sống. Chúng tôi từng kết hợp rất thành công giữa rối và cải lương trong "Ngạ quỷ", chèo, xẩm, ca Huế và cải lương trong "Ngàn năm mây trắng"...

- Và lần này lại với jazz, nghe có vẻ rất xa lạ. Tại sao anh lại chọn nhạc Jazz để làm mới cải lương?

Vở “Cây gậy thần” - kết hợp giữa cải lương và xiếc gây ấn tượng tốt cho khán giả.
Vở “Cây gậy thần” - kết hợp giữa cải lương và xiếc gây ấn tượng tốt cho khán giả.

+ Jazz ngẫu hứng, không cần tổng phổ và cải lương cũng vậy, là sự ngẫu hứng của người đàn, sau nhiều năm mà thành bài bản. Thế nhưng, trong sự bài bản đó vẫn có yếu tố cá nhân của người nhạc sĩ, đó là chất ngẫu hứng. Các nghệ sĩ sẽ đem hết sáng tạo của mình để kể câu chuyện, tuy nhiên vẫn theo yêu cầu của vở diễn chứ không cố làm cho hào nhoáng, kịch tính. Với khát khao không ngừng đổi mới, tôi mong muốn làm sao vở diễn toát lên sự hấp dẫn, lôi cuốn, sự lung linh, kỳ ảo. Điều này điện ảnh làm rất dễ, còn sân khấu rất khó. 

Nhìn ra thế giới, mới thấy rằng, các sân khấu broadway họ làm rất tốt, họ có kinh phí đầu tư, tận dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại, họ làm kỳ ảo không khác gì phim, phối hợp giữa ánh sáng và màn hình led, tạo hiệu ứng gần như điện ảnh. Đó là những hạn chế của sân khấu mà chúng tôi phải tìm cách thoát ra để cạnh tranh trực tiếp với điện ảnh. 

Tuy nhiên, để làm được như họ phải nhiều tiền, còn chúng ta, với thực tế xã hội và sân khấu, ngân sách nhà nước cấp cho chỉ đủ làm cơ bản và xã hội hóa lúc này cực kỳ khó khăn. Bán vé khán giả không mua, có những vở hay nhưng ít người có thói quen mua vé đến rạp xem. Nhà nước không thể đầu tư hơn nữa vì ngân sách có hạn. Đó là thực tế, đừng trách nhà nước, đừng trách thị trường mà phải xem chúng ta phải làm như thế nào, tồn tại trong thực tế đó như thế nào. Xiếc và cải lương "gá" vào nhau cũng chỉ với mong muốn vậy, làm phong phú hơn mặt hàng của mình để bán hàng.

- Vở diễn này nằm trong dự án bốn vở "Huyền tích Việt" - một dự án dài hơi với hình thức đổi mới để thu hút khán giả quay trở lại với sân khấu. Vậy vì sao anh lại chọn đề tài về những huyền tích có vẻ sẽ kén khán giả?

+ Lúc bắt đầu dự án "Huyền sử Việt", hai bên xiếc và cải lương trăn trở sẽ làm gì đây, cải lương cần xiếc và xiếc cần cải lương. Sự kết hợp đó phát huy thế mạnh trong những đề tài kỳ ảo, thần thoại. Hơn nữa, chúng tôi vẫn muốn tôn vinh các giá trị văn hóa của dân tộc, dù là nghệ thuật đương đại nhưng lấy chất liệu từ văn hóa cổ truyền chứ không phải đương đại thuần túy. Khởi đầu vẫn phải là sự cống hiến cho nền văn hóa, nghệ thuật của dân tộc. Chúng tôi chọn câu chuyện về 4 vị thần, Tứ Bất Tử của Việt Nam, trở về với những giá trị cội nguồn của dân tộc để nhắc nhở những thế hệ trẻ về truyền thống, về lịch sử.

- Anh là một người tiên phong trên con đường thử nghiệm, làm mới cải lương. Hành trình 10 năm miệt mài của anh có nhận được những tín hiệu tích cực hay không?

+ Tôi có chút tự hào đã làm cho nghề rục rịch tiến bước, nhưng mình tiến một thì xã hội tiến mười bước. Vậy nếu không tiến thì có lẽ cải lương sẽ biến mất tăm luôn. Tôi cứ bền bỉ chạy thôi. Thực tế đến nay, sau 10 năm không ngại thay đổi, va đập, cải lương cũng chỉ có một nhóm khán giả nhất định. Giới trẻ rất ít quan tâm. Vừa rồi, có một xu thế áo dài nam đang trở lại, trẻ con bắt đầu mặc áo dài trong các sự kiện, lễ, Tết. Đó là một tín hiệu vui cho thấy sự trở lại của các giá trị truyền thống. 

Thời mở cửa, chúng ta hướng ngoại, cái gì của ngoại cũng cho là tốt và ta mù quáng làm theo. Nhưng đến một lúc, dân trí phát triển hơn, ta giật mình nhận ra các giá trị truyền thống mới là cái ta có. Giới trẻ chúng ta sinh ra khi cánh cửa thế giới đã mở toang, chúng và thế giới là một, biết đâu chúng nó sẽ quay lại, trân trọng những giá trị của cha ông.

-Nhưng có lẽ những đổi mới mà anh theo đuổi vẫn chưa đủ. Tôi nhớ, trong dịp kỷ niệm 100 năm cải lương, đã có rất nhiều tiếng khóc, nỗi lo lắng, cải lương đang biến mất?

+ Cho đến bây giờ, cải lương chồng chất khó khăn, chưa có lối thoát, cả xã hội hóa lẫn công lập. Xã hội hóa phải chạy từng đêm, lúc này không ai dám nói mạnh cải lương sẽ thế nào. Chúng tôi là lứa cuối cùng còn có kết nối với thế hệ cũ, để giữ lại những giá trị của cải lương, là cầu nối hiện tại với quá khứ. Còn thế hệ sau này sẽ mai một đi nhiều. 

Lúc này hy vọng vào chính thế hệ trẻ, đến một lúc họ tự ngộ thấy rằng cần làm gì cho văn hóa truyền thống, họ sẽ bắt tay vào làm theo cách của họ chứ không phải cách của tôi và thứ cải lương họ làm sẽ là thứ cải lương khác, không phải của ông bà hay bố nữa. Có thể ta thấy rất xa lạ nhưng không thể khác được. 

Điều này cũng đang gây tranh cãi trong nghề. Những người yêu cải lương muốn giữ nguyên, không thay đổi, nhưng giữ nguyên sợ nó chết vì thế hệ trẻ không nghe. Đó là quy luật xã hội và ta phải chấp nhận, ta muốn nhưng lịch sử không muốn, tự nhiên không muốn. Nhưng ta cũng không chủ quan, cũng rất có khả năng, con cháu chúng ta sẽ làm nghệ thuật truyền thống ở mức thăng hoa thì sao. Thôi cứ nuôi dưỡng và hy vọng.

- Cảm ơn cuộc trò chuyện của anh.

Việt Linh (thực hiện)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.