Những tác phẩm nổi tiếng được sáng tác trong thời gian dịch bệnh

Nhà viết kịch kiêm nhà ngoại giao Nga Aleksandr Griboyedov bắt đầu viết vở kịch thơ "Khổ vì trí tuệ" khi bệnh sốt rét và dịch hạch bùng phát ở vùng Kavkaz. Trong thời gian bệnh tả hoành hành ở Moskva, Anton Chekhov đã lập một trạm chống dịch tại điền trang Melikhovo của mình, và vừa chữa bệnh vừa viết văn. Mikhail Bulgakov bắt đầu sự nghiệp sáng tác trong những năm nội chiến và bệnh thương hàn bùng phát... Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số tác phẩm văn học Nga nổi tiếng, được sáng tác trong thời gian dịch bệnh.

"Khổ vì trí tuệ"

Tháng 4 năm 1818, Aleksandr Griboyedov được bổ nhiệm chức thư ký phái bộ ngoại giao Nga ở Ba Tư. Kể từ đó, ông bắt đầu đi chu du khắp các nước cận Đông - ông sống và làm việc tại Tiflis, Tehran và Tebriz. Bạn đồng hành của ông là các bệnh thương hàn, bệnh tả, dịch hạch, liên tục bùng phát trên các mặt trận của cuộc chiến tranh Kavkaz, giữa các tù nhân và thương bệnh binh. Năm 1819, Griboyedov bị cách ly tại pháo đài Ananuri ở Gruzia.

Năm 1822, Aleksandr Gribyedov bắt đầu sáng tác vở kịch thơ  4 hồi nổi tiếng nhất của mình "Khổ vì trí tuệ" tại Tiflis, lúc bấy giờ ông làm trợ lý đối ngoại của tướng Aleksey Ermolov, Tổng tư lệnh quân đội Nga trong cuộc chiến tranh Kavkaz. Vào các buổi tối, ông ngồi sáng tác, và đến cuối năm đã hoàn thành 2 hồi đầu của vở kịch, trong khi bệnh dịch lại hoành hành và giết chết Amlich, người đầy tớ  trung thành đã phục vụ nhà văn suốt 15 năm trời.

Nhà viết kịch Nga Aleksandr Griboyedov.
Nhà viết kịch Nga Aleksandr Griboyedov.

Tháng 2 năm 1823, Griboyedov được nghỉ phép, từ Tiflis ông trở về Moskva. Từ tháng 7 đến tháng 9, tại điền trang của một người bạn ở tỉnh Tula, ông đã hoàn thành phương án đầu tiên của vở kịch. Tác phẩm được viết hoàn chỉnh và đặt  tên "Khổ vì trí tuệ" năm 1824.

Bất chấp lệnh cấm dàn dựng vở kịch tại các nhà hát ở Moskva và Saint - Petersburg, nhà văn đã kịp xem tác phẩm của mình trên sân khấu lúc sinh thời. Tháng 10 năm 1827, các sĩ quan của quân đoàn Kavkaz đã trình diễn vở kịch thơ "Khổ vì trí tuệ" nhân dịp kỷ niệm ngày đánh chiếm pháo đài Erivan.

"Yevgeny Onegin"

Đại thi hào Aleksandr Pushkin sáng tác tiểu thuyết thơ "Yevgeny Onegin" của mình hơn 7 năm: bắt đầu từ năm 1823 trong thời gian đi đày ở Kishinyov và kết thúc trong thời gian cách ly dịch tả ở làng Boldino.

Ngày 31 tháng 8 năm 1830, sau khi nhận được lời đồng ý từ lâu mong đợi của Natalya Goncharova trở thành vợ mình, Pushkin lên đường đến điền trang gia tộc ở Boldino. Tại đây, ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu làng Kistenevo - quà cưới của cụ thân sinh nhà thơ: công việc dự định được giải quyết khoảng ba tuần, nhưng do dịch tả xuất hiện trong vùng, Pushkin phải ở lại Boldino 3 tháng.

Ngày 18 tháng 9, Aleksandr Pushkin viết xong chương 8 của "Yevgeny Onegin", và ngày 25 tháng 9, ông kết thúc chương 9. Natalya Goncharova hiếm khi hồi âm những bức thư của Pushkin, bà nghi ngờ nhà thơ ở lại điền trang vì nữ công tước Golitsyna. Trong tâm trạng tuyệt vọng và không lối thoát, ngày 19 tháng 10, Pushkin đốt chương 10 của  "Yevgeny Onegin". Sau đó ông chỉnh sửa lại cuốn tiểu thuyết và rút gọn thành 8 chương như chúng ta thấy hiện nay.

Các  nhà nghiên cứu văn học coi "Mùa thu Boldino" là giai đoạn sáng tác năng suất nhất trong cuộc đời đại thi hào Aleksandr Pushkin. Thời gian này, ngoài việc hoàn tất tiểu thuyết thơ "Yevgeny Onegin", ông còn viết được 32 bài thơ,  "Tập truyện của ông Belkin", và  toàn bộ các "Bi kịch nhỏ" trực tiếp liên quan tới nạn dịch tả diễn ra ở nước Nga năm 1830. Một trong những bi kịch nhỏ của A. Pushkin "Bữa tiệc trong thời dịch hạch" nói về những suy ngẫm của nhà thơ trong ba tháng trời tự cách ly tại làng Boldino để phòng dịch. Ngoài ra,  Pushkin còn viết một loạt bài báo về thực trạng phê bình văn học Nga cho tờ "Văn học".

"Những linh hồn chết"

Trong một bức thư gửi Aleksandr Pushkin ngày 7 tháng 10 năm 1835, Nikolay Gogol viết: "Tôi bắt đầu sáng tác trường ca "Những linh hồn chết". Cốt truyện có thể phát triển thành một cuốn tiểu thuyết dài và xem ra sẽ rất hài hước". Nhà văn xác định thể loại tác phẩm của mình là "trường ca", công việc sáng tác quả thật kéo dài 7 năm, từ năm 1835 đến tháng 5 năm 1852, khi lần đầu tiên tác phẩm ra mắt bạn đọc.

Nikolay Gogol chủ yếu sáng tác "Những linh hồn chết" ở nước ngoài, nơi ông đã sống tổng cộng gần 12 năm. Tháng 6 năm 1836, nhà văn đáp tàu thủy đến thành phố Lübeck của Đức. Từ đó, ông đi qua Hamburg, Aachen, Mainz, Frankfurt và Baden-Baden để đến Thụy Sĩ, nơi ông sống suốt cả mùa thu.

Trong bức thư gửi nhà thơ Vasily Zhukovsky ngày 12 tháng 11 năm 1836, Nikolay Gogol viết:

"Mùa thu ở Vevey quả là tuyệt đẹp, gần như mùa hè. Căn phòng của tôi trở nên ấm áp và tôi tiếp tục viết "Những linh hồn  chết" đã bắt đầu ở Petersburg. Tôi viết lại tất cả những trang đầu, cân nhắc kỹ toàn bộ đề cương, và bây giờ cứ thế ngồi viết như là như một biên niên sử.  Mỗi buổi sáng, tôi  viết được 3 trang và tiếng cười mà 3 trang này mang lại đủ để làm dịu một ngày cô đơn của tôi".

Nikolay Gogol dự định chuyển đến Ý vào mùa đông, nhưng dịch tả hoành hành ở đó - "khắp nơi người ta cách ly phòng dịch, dân Ý phải đeo khẩu trang khi đi lại trên đường vì sợ bị lây nhiễm". Buộc phải thay đổi lộ trình - tháng 11 năm 1836, ông chuyển đến Paris với ý định chắc chắn sẽ đến Ý vào tháng 2 năm sau.

Dù sao, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1837, Gogol vẫn sống ở Roma. Mùa hè, nhà văn lại đến Baden-Baden tắm nước nóng chữa bệnh. Còn khi ông định trở về Ý, thì dịch tả lại bùng phát ở đó.

Nhà văn chỉ được phép đến Roma vào giữa tháng 10. Từ thời điểm này cho đến năm 1842, Gogol viết "Những linh hồn chết"  trong chính ngôi nhà ở Via Sistina, 125: ông đã hoàn tất tập 1 và bắt tay vào phần tiếp theo.

"Đảo Sakhalin"

Từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1890, Anton Chekhov thực hiện một chuyến hành trình đáng kinh ngạc: xuất phát từ Moskva, nhà văn vượt qua các tỉnh Yaroslavl, Ekaterinburg, Tyumen, Tomsk, Krasnoyarsk, Irkutsk, Blagoveshchensk đến đảo Sakhalin, và sau đó quay trở lại qua Hồng Kông, Singapore, Colombo, Port Said , Odessa. Trên đường, ông gặp bệnh dịch tả.

Trở về nhà, Chekhov bắt đầu ghi lại những ấn tượng về chuyến đi của mình và thu thập tư liệu để sáng tác. Nhưng dịch tả đã bám đuổi ông ở nước Nga. Đầu năm 1892, Chekhov mua điền trang Melikhovo ở quận Serpukhov, cách Moskva không xa. Cũng năm đó, với tư cách là một bác sĩ thực hành, ông đã lập một trạm chống dịch tả tại khu vực của mình.

Chekhov tự gọi mình là bác sĩ "khốn khổ nhất" trong số các bác sĩ ở quận Serpukhov - dường như ông không thuộc đường đi, cưỡi những con ngựa ốm yếu và ngồi trên những chiếc xe thổ tả, không có tiền và rất mệt mỏi. Nhưng những người nông dân rất quý mến nhà văn vì ông sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai. Dịch tả hoành hành ở nước Nga đến cuối năm 1893.

Trong một bức thư gửi nhà văn Nikolay Leikin, ngày 4 tháng 8 năm 1893, Anton Chekhov viết: "Mùa hè nói chung không vui vẻ vì nạn dịch tả tệ hại. Chắc anh ngạc nhiên vì tôi viết ít, nhưng tôi sống và chỉ thu nhập bằng văn học. Bao giờ kết thúc dịch tả, tôi sẽ ngồi vào bàn sáng tác, bởi vì đã tích lũy được khối chuyện hay".

Mặc dù phải đi lại liên tục và thực hiện chương trình chống dịch tả, Chekhov vẫn dành thời gian cho công việc sáng tác. Sau khi công bố truyện vừa "Phòng 6" và truyện ngắn "Người đàn bà ưa phù phiếm" năm 1892,  từ tháng 10 năm 1893, các chương của tập bút ký "Đảo Sakhalin" bắt đầu được đăng tải trên tạp chí "Tư tưởng Nga". Toàn bộ tác phẩm được xuất bản vào tháng 6 năm 1895.

"Nhật ký của một bác sĩ trẻ"

Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhà văn Mikhail Bulgakov bắt đầu làm bác sĩ tình nguyện tại một bệnh viện ở tỉnh Saratov, sau đó tại các quân y viện tuyến đầu ở Kamenetz-Podolsk và Chernivtsy. Từ tháng 9 năm 1916 đến tháng 9 năm 1917, với tư cách là một bác sĩ tốt nghiệp loại ưu, ông làm việc tại  tại làng Nikolskoye, tỉnh Smolensk.

Tiếp theo Thế chiến thứ nhất là cuộc Nội chiến. Cái chết không chỉ đến từ vũ khí trong tay kẻ thù vốn là những người đồng bào, mà còn từ nhiều căn bệnh truyền nhiễm - dịch tả, sốt rét, bệnh tinh hồng nhiệt, đậu mùa, kiết lỵ... Nguy hiểm nhất là bệnh thương hàn - chính Bulgakov bị bệnh này ở thành phố Vladikavkaz.

Tháng 2 năm 1921, nhà văn viết cho người anh họ Konstantin Bulgakov: "Mùa xuân vừa rồi, em bị thương hàn, suýt chết, và mùa hè lại ốm tiếp. Tháng 11 năm 1921, trong một lá thư gửi mẹ, Bulgakov thông báo rằng đêm đêm ông vẫn tranh thủ viết cuốn "Nhật ký của một bác sĩ trẻ", được bắt đầu hai năm trước ở Kiev.

Các truyện ngắn hiện thực mang tính chất tự truyện như:  "Cổ họng thép", "Bão tuyết", "Bóng tối Ai Cập", "Con mắt bị mất", "Bụi vũ trụ"... đều rút từ cuốn "Nhật ký của một bác sĩ trẻ" lần đầu trên được công bố trên tạp chí "Cán bộ y tế" ở Moskva trong những năm 1925-1926.

Trần Hậu (Tổng hợp)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.