Những nhạc sĩ… “tay ngang” và những ca khúc nổi tiếng

Họ không phải là người cầm bút chuyên nghiệp bởi sáng tác không phải là công việc họ chuyên tâm hàng ngày. Không phải ai cũng là hội viên một Hội văn học, nghệ thuật nào. Số lượng tác phẩm của họ ít ỏi, có người cả đời chỉ viết một bài thơ, một truyện ngắn hoặc một ca khúc. Lâu nay, ta vẫn quen gọi họ là những người cầm bút "tay ngang". Lĩnh vực văn nghệ nào cũng có, nhưng rõ hơn, nhiều hơn và để lại những tác phẩm nổi tiếng hơn cả có lẽ là trong âm nhạc. Vâng. Trong bài viết này, tôi muốn nói đến một số bài hát rất có giá trị đã trở nên nổi tiếng của những nhạc sỹ "tay ngang" như thế.

Trước hết và sớm nhất là sự xuất hiện của Đinh Nhu với bài hát "Cùng nhau đi hồng binh". Tên tác giả thì xa lạ, có thể rất nhiều người đã không biết nhưng ai ở tuổi từ 60 trở lên đều rất quen thuộc những câu hát: "Cùng nhau đi hồng binh/ Đồng tâm ta đều bước/ Đừng cho quân thù thoát/ Ta quyết chí hy sinh...".

Đó là những câu mở đầu bài hát "Cùng nhau đi hồng binh". Rất nhiều người yêu thích bài hát này đã tưởng lầm rằng tác giả sáng tác dịp Cách mạng Tháng Tám 1945. Nhưng không phải. Bài hát được ra đời sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (3/2/1930), trong cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931). Tác giả Đinh Nhu lúc sáng tác bài này là một thanh niên yêu nước, mới 20 tuổi, rất yêu thích âm nhạc, chỉ võ vẽ biết chút ký, xướng âm.

Giữa dòng thác cách mạng sục sôi khi ấy, chàng trai yêu nước còn quá trẻ đã cho ra đời được một bài hát hừng hực khí thế yêu nước của người Việt Nam ta. Nhưng 15 năm sau, trong cao trào kháng Nhật tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, bài này mới lại được vang lên tại những cuộc biểu tình rầm rộ của quần chúng và trở nên nổi tiếng. Nhưng Đinh Nhu đã không được nghe bài hát của mình bởi ông đã hy sinh ngày 17/3/1945 ở tuổi 35 trong một cuộc tù nhân nổi dậy phá trại giam ở Nghĩa Lộ không thành, bị địch bắn chết cùng với 8 chiến sỹ cách mạng khác.

NSND Trung Đức.
NSND Trung Đức.

Là người Việt Nam ở mọi thế hệ, không ai không biết hai ca khúc cực kỳ nổi tiếng là "Diệt phát xít" và "Người Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi. Ông là nhà văn hóa lớn đồng thời là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Bài "Diệt phát xít" đã mấy chục năm nay trở thành nhạc hiệu của tất cả các buổi phát thanh Thời sự của Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN). Giá trị lớn lao, bất hủ của hai bài hát trên là không thể phủ nhận. Nhưng Nguyễn Đình Thi chưa bao giờ coi mình là nhạc sỹ. Khi còn sống, ông nói mình viết ca khúc…"tay ngang" và lúc sáng tác không nghĩ lại trở nên có sức lan tỏa, trường tồn, mãnh liệt như thế.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã ra đời một bài hát mà tác giả là một cán bộ chính trị trong quân đội, ham mê âm nhạc, biết gảy đàn măngđôlin. Vừa ra đời, bài hát đã được bộ đội rất ưa thích và nhanh chóng lan truyền khắp nơi. Sau hòa bình lập lại, bài hát này trở thành nhạc hiệu của buổi phát thanh Quân đội nhân dân trên Đài TNVN. Đó là bài "Vì nhân dân quên mình" của Doãn Quang Khải.

Từ lâu, bài này mặc nhiên đã trở thành quân ca, được mọi thế hệ chiến sỹ rất ưa thích. Sinh thời, tác giả Doãn Quang Khải kể rằng, vào năm 1951, ở tuổi 26, khi ấy ông là cán bộ chính trị, đang công tác ở Trường Sỹ quan lục quân (đóng ở Vân Nam, Trung Quốc). Nhà trường phát động phong trào sáng tác văn nghệ để động viên chiến sỹ trên khắp các mặt trận chuẩn bị tiến tới giai đoạn phản công trong kháng chiến.

Doãn Quang Khải quyết định tham gia bằng một sáng tác ca khúc nhưng vẫn loay hoay chưa biết viết gì. Một hôm, ông đọc được trên báo một khẩu hiệu dành cho bộ đội: "Vì nhân dân phục vụ". Thế là đã gợi ý sáng tác cho ông. Nhưng hai tiếng "phục vụ" ông thấy vừa khô, vừa không có nhạc điệu nên đã đổi thành "quên mình". Từ ý này, lời ca vừa có âm nhạc lại vừa có ý nghĩa cao hơn, triệt để hơn: "Vì nhân dân quên mình/ Vì nhân dân hy sinh/ Anh em ơi, vì nhân dân quên mình…".

Sau bài này, ông chỉ sáng tác một bài nữa sau hòa bình lặp lại nhưng không có gì đặc biệt. Một chi tiết khá hài hước là khi ông về hưu ở làng Ngọc Mỹ (huyện Quốc Oai, Hà Tây cũ), lúc tuổi đã cao, sức yếu nhiều, trẻ con nhà hàng xóm mở đài quá to gây đinh tai, nhức óc đúng lúc bắt đầu buổi phát thanh Quân đội nhân dân. Ông đã quát chúng. Một trẻ nói với ông: "Ông ơi! Nhạc của ông đấy mà. Ông không thích nghe à?", nhưng Doãn Quang Khải vẫn không để ý, vẫn yêu cầu chúng vặn nhỏ đài.

Một ca khúc nổi tiếng được đông đảo công chúng, đặc biệt đồng bào miền Nam rất ưa thích là "Vàm Cỏ Đông", phổ thơ của Hoài Vũ ("Ở tận sông Hồng em có biết/Quê hương anh cũng có dòng sông/Anh mãi gọi với lòng tha thiết/ Vàm Cỏ Đông, ơi Vàm Cỏ Đông…"). Tác giả phổ nhạc ca khúc là Trương Quang Lục, vốn là kỹ sư, về sau làm báo. Ông còn có một bài khác cũng rất nổi tiếng dành cho thiếu nhi là "Trái đất này là của chúng em" phổ thơ của Định Hải ("Trái đất này là của chúng mình/ Quả bóng xanh bay giữa trời xanh…"). Là nhạc sỹ không chuyên, chỉ viết "tay ngang" nhưng ông dành nhiều thời gian cho âm nhạc và sáng tác khá nhiều.

Cũng như Trương Quang Lục, cố tác giả Phan Lạc Hoa làm việc ở ngành đường sắt, không có nhiều thời gian dành cho niềm đam mê âm nhạc. Nhưng ông có hai ca khúc để đời là "Tàu anh qua núi" và "Tình ca bên dòng sông quan họ". Bài thứ hai phổ thơ của Đỗ Trung Lai. Hầu như ca sỹ nào cũng biết hai bài hát này nhưng phải đến NSND Thanh Hoa - nguyên là phu nhân của tác giả - hát thì tác phẩm trở nên có sức lôi cuốn đặc biệt, nhất là ở bài "Tàu anh qua núi". Ở câu kết bài ("Mấy núi em cũng trèo"), tiếng "núi" đã được bà nhấc lên một âm khu rất cao diễn tả độ cao chót vót của núi, gây cho người nghe cảm giác đến đây sẽ được chứng kiến cảnh núi non hùng vĩ của đất nước.

Tác giả Trương Quang Lục.
Tác giả Trương Quang Lục.

Nói đến những bài hát viết về xứ sở dân ca quan họ ở Kinh Bắc không thể không nhắc đến "Làng quan họ quê tôi" của Nguyễn Trọng Tạo, phổ thơ Nguyễn Phan Hách. Bài hát chỉ phảng phất một chút chất liệu dân ca vùng này rồi được tác giả phát triển đi khá xa, thậm chí có cả chất lý Nam Bộ. Nhưng người nghe đã hoàn toàn chấp nhận bởi tính hấp dẫn đặc biệt của giai điệu ("Làng quan họ quê tôi /Tháng giêng mùa hát hội /Những đêm trăng hát gọi/ Con sông Cầu làng bao xanh/ Ngang lưng làng quan họ xanh xanh…").

Nguyễn Trọng Tạo hoạt động nhiều ở lĩnh vực văn học và báo chí. Ông làm nhiều thơ, viết báo, lý luận phê bình, còn vẽ bìa sách, minh họa. Không dành nhiều thời gian cho sáng tác ca khúc mà làm thơ nhiều hơn. Ngoài ca khúc nổi tiếng vừa nhắc, những năm gần đây, ông còn cho ra đời nhạc phẩm được đông đảo quần chúng yêu thích và là bài hát nằm lòng chính là bài "Khúc hát sông quê" phổ thơ của nhà thơ Lê Huy Mậu, thắm đượm âm hưởng những điệu hò ví dặm quen thuộc của Nghệ - Tĩnh, nghe ngọt ngào, rất dễ thương ("Qua nửa đời phiêu dạt/ Con lại về úp mặt vào sông quê/ Ơi con sông dạt dào như lòng mẹ/ Chở che con đi qua chớp bể mưa nguồn…").

Trong số những nhạc sỹ "tay ngang" viết nên được những bài hát nổi tiếng còn phải kể đến nhiều ca sỹ. Công việc chính của họ là ca hát. Nhưng họ đã để lại những ca khúc xuất sắc được công chúng ưa thích. Đó là những danh ca như Quốc Hương với bài "Du kích Long Phú", Trần Khánh với các bài "Nắng ấm về trên Tổ quốc", "Tiếng sáo anh địa chất" và "Lời ru theo sóng". Trần Thụ với "Nhanh tay lưới chắc tay súng". Ba nghệ sỹ này đều đã qua đời.

NSND Tường Vi (quân đội) có bài "Phi đội ta xuất kích" được bộ đội không quân rất thích. NSND Trung Đức là tác giả bài hát quen biết "Em đi chùa Hương", phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp. Về bài hát này, rất nhiều người, trong đó có cả giới ca sỹ đã nhầm là của GS Trần Văn Khê - một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Học giả này cũng từng phổ bài thơ trên của Nguyễn Nhược Pháp. Nhưng bài được giới trẻ hát nhiều, trở nên quen biết là do ca sỹ Trung Đức phổ. Có lẽ vì nghệ sỹ hát bài này quá hay, quá nổi tiếng trong lĩnh vực thanh nhạc nên người ta đã không nghĩ ông có thể đồng thời là người sáng tác.

Trong lĩnh vực sáng tác cho thiếu nhi, cố nhạc sỹ Hàn Ngọc Bích là một "tay ngang" nhưng đã để lại được khá nhiều bài hát hay, đến hôm nay các em vẫn còn thích hát: "Đưa cơm cho mẹ đi cày", "Cây bàng trước ngõ", "Tiếng chim trong vườn Bác"…Ông nguyên là giáo viên dạy lịch sử rồi về sau chuyển sang công tác ở Bộ Giáo dục. Ông sáng tác không nhiều nhưng những ca khúc dành cho thiếu nhi của ông đều có chất lượng và giá trị trường tồn.

Trên đây là một số nhạc sỹ "tay ngang" tiêu biểu. Ngoài ra còn khá nhiều người nữa, đặc biệt là trong lĩnh vực sáng tác cho tuổi thơ mà không thể kể hết. Họ có thể là hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam (như Trương Quang Lục, Nguyễn Trọng Tạo, Hàn Ngọc Bích, Quốc Hương, Trần Khánh, Trần Thụ…), có thể không. Nhưng đều là những tác giả có tài đã để lại những ca khúc tuy ít về số lượng nhưng rất có giá trị về tư tưởng cũng như nghệ thuật. Nghệ thuật luôn "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Họ thực sự đã rất có duyên với sáng tác ca khúc và với sự ngưỡng mộ của công chúng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.