Những nhà văn - "viện sĩ"

Chắc đọc đến dòng tít này, nhiều người sẽ thắc mắc. Xin thưa: Tôi muốn nói đến các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam chuyên ngành lý luận phê bình và dịch thuật, từng công tác tại Viện Văn học thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội. Đây là những chuyên ngành không đông đảo như văn xuôi và thơ, lại nghiêng về đòi hỏi học vấn; mỗi năm, Hội chỉ kết nạp có mấy người…

Trong số các nhà văn hội viên, có nhiều nhà văn đã từng công tác ở Viện, người ít thì dăm ba năm, người nhiều thì suốt từ khi ra trường cho đến lúc nghỉ hưu. Nhiều người đã nói đến nhà số 4 Lý Nam Đế (trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội) như một địa chỉ thân thuộc của giới sáng tác, nhưng ít ai nhớ rằng, 20 Lý Thái Tổ cũng là một địa chỉ rất quen thuộc của giới nhà văn chuyên ngành lý luận phê bình. Nếu thành lập một Chi hội Nhà văn tại Viện Văn học, tôi nghĩ, quân số chắc không thiếu.

Ngoài những nhà văn đã mất, trong đó có một số nhà văn từng công tác tại Viện nhưng sau đó chuyển sang cơ quan khác, như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hằng Phương, Hoàng Trung Thông, Hoàng Trinh, Vũ Đức Phúc, Đỗ Đức Dục, Hoàng Ngọc Phách, Trần Thanh Mại, Cao Huy Đỉnh,Nguyễn Minh Tấn, Nam Mộc, Trường Lưu, Nguyễn Đức Đàn, Bùi Công Hùng, Thiếu Mai, Đào Thái Tôn, Phạm Tú Châu…(các nhà văn như Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông là những hội viên tham dự kỳ Đại hội đầu tiên).

Dịch giả Nam Trân là người sau đó ít lâu được điều từ Ủy ban Kháng chiến liên khu V về phụ trách tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán "Ngục trung nhật ký" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Việt. Nhiều người trong số này có mặt từ khi Viện Văn học mới thành lập.

Nhà văn hội viên từng công tác ở Viện nhưng sau do yêu cầu công việc  chuyển sang làm việc ở cơ quan khác và đều có những đóng góp cho chuyên ngành của mình còn có Mai Quốc Liên, Lê Sơn, Dương Tất Từ, Ngô Thảo, Lê Thành Nghị. Ngày ấy, là những sinh viên tốt nghiệp vào loại giỏi, được phân về công tác tại Viện Văn, nhưng "ngồi chưa ấm chỗ", các anh Ngô Thảo, Nguyễn Ngọc Thiện, Lê Thành Nghị đã trúng tuyển nghĩa vụ quân sự và lên đường nhập ngũ.

Từ trên xuống: Các nhà văn Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông là những hội viên Sáng lập Hội nhà văn Việt Nam.
Từ trên xuống: Các nhà văn Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông là những hội viên Sáng lập Hội nhà văn Việt Nam.

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, Nguyễn Ngọc Thiện trở về cơ quan và năm 1978-1980 lại được cấp trên điều đi tăng cường biên giới phía Bắc, trở về, được đi nghiên cứu sinh ở Đức. Ngô Thảo và Lê Thành Nghị thì về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau này cả ba anh đều tham gia công việc quản lý ở cơ quan mới.

Tất cả các đời lãnh đạo của Viện Văn học đều là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Từ Viện trưởng đầu tiên Đặng Thai Mai đến nhà thơ Hoàng Trung Thông, Viện sỹ (Viện hàn lâm Khoa học Hunggari) Hồ Tôn Trinh (Hoàng Trinh), đến các Giáo sư Phong Lê, Hà Minh Đức, các Phó Giáo sư - Tiến sỹ Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Đăng Điệp, các Viện phó Trương Đăng Dung, Nguyễn Hữu Sơn.

Còn nhớ trước đây, có lẽ khoảng thời gian trước khi đất nước thống nhất, mối quan hệ giữa giới sáng tác và phê bình không thật được mặn mà, thân thiết. Thời bấy giờ, quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và tuyên truyền có phần bị đẩy đến cực đoan nên giới phê bình bị giới sáng tác "coi" là "gác cổng", vì trong thẩm bình giá trị của văn chương, chức năng thẩm mỹ không được chú ý đúng mức trong khi chức năng giáo dục - hiểu theo nghĩa giáo dục nghĩa vụ công dân - lại quá chú trọng.

Cho nên có giai thoại rằng: Một nhà văn khá nổi tiếng có bảo với bạn bè: khi nào tao chết, nhớ chôn theo một thằng phê bình để xuống đấy cãi nhau cho vui! Lứa chúng tôi về nhận công tác ở Viện vào đầu những năm bảy mươi trở lại đây, nghe nhiều giai thoại về mối quan hệ đó và cũng chịu theo hệ lụy của mối quan hệ này.

Chỉ sau khi nhà thơ Hoàng Trung Thông được điều về làm Viện trưởng thì quan hệ giữa Viện và Hội mới dần dần được cải thiện. Đi hội nghị, hội thảo ở bên báo, bên Hội, thậm chí đi thực tế về các tỉnh, ông đưa chúng tôi đi cùng. Ông đưa chúng tôi đến thăm nhà các nhà văn, nhà thơ để tạo sự gần gũi trong giao tiếp. Là một trong số các nhà thơ tiêu biểu của thế hệ kháng chiến chống Pháp, trước đó, ông từng làm Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn liền mấy khóa, lại viết nghiên cứu, phê bình, với tác phong giản dị, dễ gần, Hoàng Trung Thông thực sự là người phá băng, tạo mối quan hệ thân tình giữa các cán bộ trong Viện và giới sáng tác.

Thỉnh thoảng, những cuộc giao lưu lại được Viện tổ chức. Dù không có thù lao nhưng khi được Viện mời, các nhà văn, nhà thơ vẫn đến nói chuyện rất nhiệt tình. Ngày khóa 1 Trường Viết văn Nguyễn Du khai giảng, chúng tôi cũng được sang dự, được chiêm ngưỡng các anh các chị, phần lớn từ chiến trường trở về, cũng không hơn tuổi chúng tôi bao nhiêu, nhưng danh đã nổi như cồn, vẻ ngoài đầy lãng tử.

Nhớ chị Mỹ Dạ mang theo con nhỏ ra học. Là những người đang nuôi con nhỏ, chúng tôi rất cảm thông với các chị khi đi học trong điều kiện lúc bấy giờ. Bình thường, nghe tên tuổi, đọc tác phẩm của các anh chị thì cảm giác là sự nghiêm cẩn, nhưng khi dự giờ cùng họ, nghe họ trò chuyện với nhau thì thấy họ cũng thật tếu táo, dễ gần.

Ngày ấy, viết ra một bài báo mà được in là một sự kiện, ra được một cuốn sách riêng thì còn là sự kiện động trời. Hai nhà thơ mới chung nhau ra được một tập thơ, như Ý Nhi - Lâm Thị Mỹ Dạ với "Trái tim - Nỗi nhớ"; Lưu Quang Vũ - Bằng Việt với "Hương cây - Bếp lửa", Vũ Quần Phương và Văn Thảo Nguyên với "Cỏ - Mùa xuân"…

Cánh phê bình bên Viện càng khó khăn hơn. Cho đến đầu những năm bảy mười, tám mươi, lần lượt những "cây đa cây đề" bên Viện được in sách rồi vào Hội: Vũ Đức Phúc, Phong Lê, Thành Duy, Nguyễn Minh Tấn, Huệ Chi, Đức Hạnh, Vân Thanh (Giáo sư Hà Minh Đức vào Hội từ năm 1967 khi ông còn là giảng viên bên khoa Văn Đại học Tổng hợp).

Từ thập niên tám mươi trở đi, cơ chế mở, lứa chúng tôi người được đào tạo nghiên cứu sinh ở nước ngoài, người làm luận án trong nước, sách chuyên luận và phê bình tiểu luận được in ra. Những Vũ Tuấn Anh, Phan Trọng Thưởng, Phạm Tú Châu, Trương Đăng Dung, Mai Hương, Bích Thu, Nguyễn Đăng Điệp, Tôn Phương Lan, Nguyễn Hữu Sơn, Trịnh Bá Đĩnh, Lê Phong Tuyết lần lượt vào Hội.

Nghiên cứu, phê bình là một công việc khó, dễ va chạm. Giới nhà văn - "viện sỹ" bài viết ít tính trực chiến, nặng chất hàn lâm, công trình nghiêng về nghiên cứu hơn là phê bình. Đó là một đặc điểm, có thể cũng là một hạn chế. Tuy nhiên, hầu hết các bài viết, công trình đều thể hiện được sự nghiêm túc và trách nhiệm của mình trước một tác phẩm, một tác giả, một vấn đề đang đặt ra trong đời sống văn học. Một số lý thuyết của phương Tây như kỹ thuật dòng ý thức, phân tâm học, chủ nghĩa hình thức, hậu hiện đại… đã được sử dụng trong tiếp cận tác phẩm văn chương và góp phần đưa lại cho đời sống văn đàn những sắc màu mới.

Nếu như giới sáng tác đang xuất hiện nhiều cây bút trẻ tiềm năng thì giới nghiên cứu trẻ trong Viện cũng có nhiều "nhân vật" tuổi đời cũng rất trẻ (trong đặc trưng nghề nghiệp) rất xứng đáng được hy vọng như Đoàn Ánh Dương, Trần Thiện Khanh, Đỗ Hải Ninh, Lê Hương Thủy, Cao Kim Lan, Đặng Thái Hà… Sức trẻ và học vấn, ngoại ngữ, thực tế đã cho thấy họ là những người sẽ góp phần làm mới gương mặt nghiên cứu phê bình thời hội nhập.

Tôn Phương Lan

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.