Nhớ xuân xưa trong lòng địa đạo “Tam giác sắt”

Ít người biết rằng ở vùng Tây Nam huyện Bến Cát (Bình Dương), cách TP Thủ Dầu Một 15km,  thuộc địa bàn 3 xã Phú An, An Tây, An Điền có một lòng địa đạo rất độc đáo, chạy dài gần 100km, đến từng xóm, ấp. Hệ thống địa đạo này là pháo đài vững chắc của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ...

Đây là một vị trí chiến lược rất quan trọng, một mặt tiếp giáp quốc lộ 13, một mặt giáp sông Sài Gòn, và là cửa ngõ hướng Tây Bắc của Sài Gòn. Trên vùng đất này đã xảy ra nhiều trận đánh ác liệt giữa ta và địch, từ đó địa danh này được gọi là Vùng "Tam giác sắt".

Lòng địa đạo Tam giác sắt còn là nơi xuất phát của nhiều đơn vị tham gia cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Huyền thoại hệ thống địa đạo Tam giác sắt

Đã ngoài 80 tuổi, nhưng ông Huỳnh Văn Thu, hay còn gọi là Bảy Thu, nguyên là Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Bến Cát, từng là Bí thư kiêm Xã đội trưởng xã Phú An trong thời kỳ chống Mỹ vẫn còn mạnh khỏe, minh mẫn.

Được hỏi về những ký ức mùa xuân trong lòng địa đạo những năm tháng chiến tranh ác liệt, căng thẳng, rót ly trà nóng mời khách, ông Bảy Thu chậm rãi kể: "Từ thời kỳ chống thực dân Pháp, nhân dân ở xã Tây Nam Bến Cát cũng đã đào hầm bí mật ngụy trang trong nhà, trong vườn của mình để nuôi cán bộ cách mạng. Nhược điểm của loại hầm này là do chỉ có một nắp để lên xuống, một lỗ thông hơi nên khi bị địch phát hiện dễ bị vây bắt.

Để khắc phục, Huyện ủy Bến Cát đã yêu cầu đồng chí Nam Quốc Đăng (tức Nguyễn Văn Đăng) - Huyện đội phó Huyện đội Bến Cát đề xuất, thực hiện ý tưởng nối liền các hầm bí mật thành những đường ngầm liên thông nhau trong lòng đất.

Khu di tích lịch sử địa đạo.
Khu di tích lịch sử địa đạo.

Điểm đào đường ngầm đầu tiên là tại khu vực sân vận động xã An Tây bây giờ, sau đó địa đạo được đào từ điểm giáp ngã ba xã An Điền tới vườn cao su xã Phú An. Lúc này, tổng chiều dài hệ thống địa đạo của mỗi xã chỉ khoảng 1km, sau này sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ mới phát triển nối thông nhau giữa các xã.

Ông Bảy Thu cầm cây viết cặm cụi vẽ trên tờ giấy trắng cấu trúc một đoạn địa đạo mẫu, nơi ông đã từng nằm trong ban chỉ đạo và cũng là người đã cùng với dân, quân du kích tham gia đào địa đạo trong suốt hai năm trời (1961-1962) cho chúng tôi xem.

Ông cho biết thêm, địa đạo dài hàng trăm km là những đường hầm chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, được hình thành bởi hai đường: đường chính là đường xương sống và đường xương sườn. Đường xương sống nằm cách mặt đất 4m, chiều cao 1,2m, rộng 0,8m, có cấu trúc từ 2 đến 3 tầng, tầng trên gọi là "thượng", tầng dưới gọi là "trần". Chỗ lên xuống có nắp hầm bí mật, dọc theo đường hầm có nhiều lỗ thông hơi, trổ lên mặt đất bằng nhiều cửa bí mật được ngụy trang kín đáo. Chung quanh cửa hầm lên xuống ta bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái, có cả mìn lớn để chống xe tăng, mâm phóng lựu đạn để chống máy bay trực thăng mang quân đổ bộ… nhằm tiêu diệt, ngăn chặn quân địch khi chúng tới gần.

Liên hoàn trong lòng địa đạo các hầm rộng để quân ta nghỉ ngơi sau những cuộc chống càn, dự trữ vũ khí thực phẩm, hầm nấu ăn, nơi làm việc, hầm chỉ huy, nuôi dưỡng thương binh, đào giếng lấy nước. Ngoài ra còn có những hầm lớn để hội họp, nhân dân trú ẩn khi giặc bố càn…

Từ đường xương ống ta đào ra các nhánh phụ chảy tỏa về các thôn, ấp gọi là đường xương sườn. Đi liền với các nhánh phụ ta xây dựng các ô, ụ chiến đấu (gọi là quyết chiến điểm). Để tránh sự hủy diệt của quân thù khi phát hiện ra miệng hầm, các nhánh phụ phải có 2 nắp riêng biệt để khi cần thiết làm chỗ thoát hiểm. Trong mỗi nhánh phụ, cứ khoảng 1km ta bố trí 3 ụ chiến đấu.

Ụ chiến đấu có chiều sâu 1,7m, rộng 1m - 2m có 4 lỗ châu mai chĩa ra bốn hướng, mỗi ụ có 2 nắp, nắp trên cách mặt đất khoảng 0,5m để đứng trong ụ có thể dễ dàng quan sát diễn biến phía trên mặt đất. Nắp dưới ăn thông với tầng thứ 2 của địa đạo để khi bị phát hiện, quân ta dỡ nắp rút vào địa đạo. Các ụ chiến đấu được bố trí cách đường xương sống khoảng 200m. Chung quanh ụ chiến đấu lắp đặt các bãi mìn, hầm chông.

Sau 720 ngày đêm lao động vất vả nhẫn nại, kiên trì, từ những dụng cụ thô sơ như lưỡi cuốc, lưỡi xẻng, những chiếc ky tre, quân và dân 3 xã Tây Nam đã bí mật tạo dựng một làng ngầm dưới lòng đất dài gần 100km. Cho đến bây giờ, khí thế lao động đào hầm địa đạo của quân dân 3 xã Tây Nam như vẫn còn sống động trong tâm trí mỗi chúng  ta:

Chồng vác xẻng, vợ vác leng
Con xách lồng đèn, cầm vá theo sau
Cả nhà chung sức với nhau
Đào hố, đào hào chống đạn, chống bom

Có thể tự hào nói rằng: "Hệ thống địa đạo Tam giác sắt là một công trình vĩ đại vào loại bậc nhất thế giới". Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, địa đạo vùng Tam giác sắt đã phát huy tác dụng của một hệ thống địa đạo chiến, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Ông Bảy Thu kể về địa đạo “Tam giác sắt”.
Ông Bảy Thu kể về địa đạo “Tam giác sắt”.

Dựa vào hệ thống địa đạo, quân dân vùng 3 xã Tây Nam đã chôn vùi hàng ngàn tên giặc, bắn cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, bẻ gãy nhiều cuộc càn quét lớn của địch. Mùa xuân 1975, từ trong lòng địa đạo này đã có nhiều cánh quân lớn thần tốc tiến về Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Viết đến đây, chúng tôi chợt nhớ một vài câu trong bài thơ "Đất quê ta mênh mông" của  Dương Hương Ly:

"Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất
Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam"


Và: "Có những đoàn quân từ  lòng đất xông lên
Quân thù bạt vía
Xung quanh chúng đâu cũng  là trận địa
      Đất quê ta mênh mông"

Nhớ xuân xưa trong lòng địa đạo

Gặp chúng tôi, ông Nguyễn Văn Trích (tên khác là Bảy Trích, sinh năm 1940), nguyên là Xã đội trưởng xã An Tây; đồng thời là kiến trúc sư xây dựng địa đạo kể lại: Những năm tháng chiến tranh ác liệt, trước những cuộc càn quét lớn của quân địch, lực lượng dân quân du kích địa phương phải ém mình ăn tết dưới hầm địa đạo là chuyện bình thường.

Điều khó quên và cũng là cảm động nhất là cảnh bà con nhân dân gửi quà như bánh tét, củ kiệu, tôm khô, bánh mứt, thuốc rê… cho chúng tôi đón giao thừa mặc dù hồi ấy nhà nào cũng túng thiếu, nghèo khó. Nhưng nhớ nhất vẫn là Tết Mậu Thân 1968, nhiều mẹ còn gửi tiền để chỉ huy xuống hầm lì xì cho các chú bộ đội lấy hên trước giờ xông trận.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, nằm trong địa bàn chiến lược lại tiếp giáp với cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn nên 3 xã Tây Nam được chọn là nơi xây dựng, tập kết các kho hậu cần phục vụ chiến dịch. Sau Tết Mậu Thân 1968, vùng địa đạo Tam giác sắt lại trở thành mục tiêu chính của những trận bom pháo, càn quét, đánh phá ác liệt của Mỹ - ngụy. Tuy vậy, lực lượng chiến đấu của ta vẫn kiên trì bám trụ, giữ vững từng tấc đất trong vùng địa đạo, gây cho địch nhiều thiệt hại. Xuân 1969 là mùa xuân khó khăn, gian khổ nhất, lương thực dự trữ không còn, việc vận chuyển lương thực từ  huyện Củ Chi (Sài Gòn) sang xã An Tây gặp nhiều khó khăn.

Tết đã đến gần, nhưng thương binh trong địa đạo không có gạo để nấu cháo, phải ăn rau, củ rừng thay cơm, cho nên cán bộ, chiến sĩ dưới địa đạo phải chờ đêm xuống, thăm dò cẩn thận rồi mới tìm cách thoát lên vào ấp chiến lược móc nối với cơ sở mang lương thực, thuốc chữa bệnh, bánh trái xuống địa đạo để bộ đội ăn tết. Năm 1975, địa đạo Tây Nam còn trở thành nơi quân ta hội quân, che giấu lực lượng chuẩn bị cho chiến dịch xuân 1975 lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngọc Ánh-Xuân 2017

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.