Nhớ mùa Xuân biên cương năm ấy

Đầu năm 1981, chuyến công tác đầu tiên với nhiệm vụ phóng viên của tôi là vùng biên giới Hoàng Liên Sơn (thuộc Lào Cai bây giờ). Khi ở đài phát thanh tỉnh, tôi gặp anh Trường, cán bộ đài truyền thanh huyện Bắc Hà về tỉnh nhận thiết bị cho đài huyện. Sau khi hỏi han tình hình, máu nghề nổi lên, thế là tôi quyết định về Bắc Hà cùng anh. 

Vì đất biên giới xa lạ, đi lại khó khăn và hậu chiến vẫn đang còn nhiều chuyện, nên tôi rủ thêm anh Hà Tiến Ất, công tác ở đài phát thanh tỉnh đi cùng. Lúc đầu Ất lưỡng lự, hỏi ra mới biết, Ất đã có vợ và vợ anh sắp sinh con. Nhưng rồi anh vẫn quyết định cùng đi. Trước hôm đi, tôi và Ất về Mường Lò thăm cô Thuy (vợ Ất), cô Thuy bấy giờ làm nhân viên ở một cơ quan của huyện Văn Chấn. Nhìn thấy cô Thuy sắp đến ngày sinh, tôi cũng ái ngại, nói với cô đi chuyến này ngắn thôi, chắc chỉ một tuần là về.

Đúng hẹn 9h tối, ba chúng tôi có mặt ở ga Yên Bái lên tàu đi Phố Lu. Chúng tôi đỡ anh Trường xách theo lỉnh kỉnh những dây dợ, loa, mấy túi thiết bị lặt vặt khác. Vạ vật trên tàu từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng mới đến Phố Lu, xuống ga, chúng tôi nhanh chóng di chuyển đến bến xe để kịp lên xe khách chuyến 6 giờ, giờ này chỉ có một chuyến đi Bắc Hà, nếu lỡ phải đợi 3 tiếng nữa mới có xe.

Đài truyền thanh huyện Bắc Hà chỉ là một ngôi nhà cấp bốn đã cũ. Khu kỹ thuật của đài, ngoài chiếc máy phát điện công suất nhỏ, còn có một gian nhỏ đặt bộ amply kết nối với hơn chục cái loa truyền thanh mắc dây quanh khu vực cơ quan huyện, do một người Mông là anh Vàng Seo Tống làm đài trưởng. Vàng Seo Tống cũng là người sở tại Bắc Hà. Chúng tôi nói với anh Seo Tống là muốn đến một xã vùng cao xem cuộc sống tinh thần của bà con ra sao sau sự kiện năm 1979 và nhờ anh đưa đi.

Tưng bừng phiên chợ Cán Cấu ngày Xuân.
Tưng bừng phiên chợ Cán Cấu ngày Xuân.

Sáng hôm sau, chúng tôi theo anh Tống về xã Bản Phố (Pản Phố). Tên xã tiếng địa phương có nghĩa là lưng chừng núi. Đúng như tên gọi, vừa bước ra khỏi nhà là bắt đầu leo dốc. Trời lâm thâm mưa, đường trơn trượt ngoằn ngoèo bên những vách núi dựng đứng, nhìn xuống vực cũng sương mù trắng xóa. Đến quá trưa sau khi leo hết ba tầng núi thì cũng đến được Bản Phố. Khi đến nơi, hầu hết các nhà người lớn đều đi vắng, giờ này họ đi ngoài nương hoặc ở dưới chợ.

Người dân Bản Phố ngoài làm nương còn có thêm nghề nấu rượu. Đặc sản rượu ngô Bản Phố nổi tiếng khắp vùng. Cứ vào dịp các phiên chợ, tìm đến hàng rượu, thấy người bán rượu ngồi bên từng dãy can dài, hẳn đấy là người Bản Phố. Hỏi thăm rồi cũng tìm đến được nhà anh Vàng Seo Diu, Bí thư kiêm chủ tịch xã, rất may anh cũng vừa ở dưới huyện về. Nghe giới thiệu nhà báo dưới xuôi lên, bí thư xã rất vui, chưa kịp chuyện trò gì, đã xách ngay can rượu cùng mấy cái bát ra rót tràn mời uống. Thấy chúng tôi sợ từ chối khéo, Vàng Seo Diu bảo “Không được chối, không uống thì không làm việc đâu”. Chúng tôi đành uống. Thứ rượu ngô nặng trên bốn mươi độ uống vào bỏng rát ruột gan.

Sau màn chào rượu, chúng tôi nói với anh Diu mục đích chuyến công tác về Bản Phố, là để tìm hiểu tình hình địa phương sau sự kiện năm 1979. Nghe vậy, anh Diu liền bảo: “Địa bàn Bản Phố là tuyến phòng thủ phía sau. Năm 1979 cũng phải sẵn sàng chi viện cho tuyến trước. Khi tình hình yên ắng trở lại, tỉnh, huyện đang chỉ đạo tất cả các xã phải củng cố thế trận phòng thủ. Hiện Bản Phố đang xây dựng  lực lượng dân quân hàng trăm người, được huấn luyện bài bản, lo xây dựng hậu cần tại chỗ. Tinh thần bà con rất hăng hái. Mình phải giữ đất của mình chớ”. Nói xong, anh Diu cười rất hào sảng.

Tối ấy chúng tôi nghỉ lại Bản Phố. Nhà đồng bào Mông nơi đây thường nhỏ và thấp. Có một gian rộng hơn thì trên làm gác để ngô, phía dưới là bếp. Anh Diu mời chúng tôi uống rượu ngoài sân. Nói là sân nhưng chỉ là một tảng đá tương đối phẳng vắt ngang một lạch nưới nhỏ chảy róc rách ngay trước nhà, nguồn nước anh bắc từ trên núi xuống để phục vụ cho gia đình.

Trời về tối càng lạnh, nhìn vầng trăng đang lên hắt quầng sáng lu mờ từ phía ngọn núi trước mặt. Khi chủ và khách ngấm rượu, cao hứng, tôi liền tức cảnh đọc thơ tặng chủ nhà: Bản Phố nghĩa là nửa dốc/ Đường lên biên giới dừng chân/ Đêm trăng rõ từng lá trúc/ Chủ nhà mời rượu giữa sân… Tiếng lục lạc về bản tối/ Rì rầm con suối đâu đây/ Gió nghiêng hơi lạnh tràn núi/ Sóng sánh trăng lên, rượu đầy

Anh Diu thạo tiếng Kinh nên rất hào hứng, cứ ép chúng tôi uống thật say. Kỷ niệm ở Bản Phố chính là cái đêm chúng tôi ở nhà anh. Nhà không có giường, anh dọn cái gác bếp cho chúng tôi nằm tạm. Khi chúng tôi lên gác thì đành nằm im không dám xuống đất, vì sợ mấy con chó trông như con bê con dữ tợn cứ lượn lờ trong nhà. Ban ngày leo dốc mệt, lại uống rượu nên chúng tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Khoảng ba giờ sáng, thấy sống mũi cay sộc, tôi bừng tỉnh, thấy cả anh Tống và Ất cũng thức từ lúc nào. Khói bếp đã đánh thức chúng tôi dậy. Thì ra vợ anh Diu dậy sớm, nhóm bếp đồ mèn mén. Chúng tôi nằm trên gác bị khói hun không chịu nổi, bí quá đành phải vạch tấm liếp mái nhà để có chỗ thở. Sau cùng cũng không chịu được khói, cả ba tụt xuống ngồi bên bếp lửa cùng chủ nhà cho đến sáng.

Lên biên giới, muốn ra vùng biên lúc này phải có ý kiến của lãnh đạo huyện ủy, ủy ban. Thế là hôm sau chúng tôi vào huyện ủy đề đạt nguyện vọng được lên Si Ma Cai. Nhà huyện ủy cũng gồm mấy ngôi nhà cấp 4, theo kiểu dã chiến.

Người chúng tôi gặp đầu tiên là anh Tráng A Pao, bấy giờ là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Huyện ủy Bắc Hà. Thấy chúng tôi lên anh rất vui, bảo các cậu cứ nghỉ lại đây, chờ xe ôtô đi công tác về sẽ đưa lên Si Ma Cai. Trong hai ba ngày chúng tôi nằm chờ ở huyện ủy, hàng ngày ăn cơm cơ quan, hút thuốc lào, trò chuyện cùng Bí thư Huyện ủy, mới hiểu thêm nhiều chuyện.

Có thể nói anh Tráng A Pao là cuốn “từ điển sống” của vùng đất Bắc Hà – Si Ma Cai, chỗ nào anh cũng thạo, chuyện gì anh cũng biết. Đêm Bắc Hà rất lạnh, sương buông trắng xóa. Từ ngôi nhà huyện ủy trông xuống phía trước mặt lờ mờ trong sương là dinh vua xứ Mèo Hoàng A Tưởng, một công trình đồ sộ, kết hợp kiến trúc Âu - Á, được khởi công xây dựng từ năm 1914, hoàn thành năm 1921.

Ngôi nhà quyền lực này từng là nỗi khiếp đảm của những người dân nghèo vùng Tây Bắc trong nhiều thập kỷ, giờ để hoang phế, cỏ dại mọc vào tận cửa. Trước nhà huyện ủy có khoảng đất rộng, tương đối bằng phẳng, đêm nào cũng có hàng chục đôi vợ chồng người Mông nghỉ lại. Những người này từ các xã lân cận, có khi cách nửa ngày đường xuống chợ, gặp bạn uống rượu cả buổi. Say rồi trời tối không về kịp, họ trải lá cây nằm ngổn ngang giữa bãi đất trống, chồng say thì vợ ngồi chờ, lúc nào tỉnh thì về.

Huyện ủy bố trí chiếc xe U oát đưa chúng tôi lên Si Ma Cai. Tiễn ra xe, anh Tráng A Pao bảo đã điện cho Đồn biên phòng 201 đón rồi, lên đấy việc ăn ở, đi lại sẽ do đồn biên phòng hướng dẫn. Sau một tuần, huyện sẽ cho xe lên đón chúng tôi. Xe nhằm hướng Si Ma Cai chạy con đường độc đạo men theo sườn núi đầy những ổ trâu, ổ gà, nhưng nhờ tay lái điêu luyện của bác tài, sau vài giờ đồng hồ chúng tôi đã đến được Đồn biên phòng Si Ma Cai,  có phiên hiệu là đồn 201.

Đón chúng tôi là anh Lý, Thiếu tá đồn trưởng cùng cán bộ chiến sỹ. Không khí hoạt náo bởi khoảng hai chục con chó của đồn nuôi, thấy khách lạ vào đua nhau sủa ầm ĩ. Đồn 201 được xây dựng từ thời Pháp, nằm ngay dưới chân dãy núi Lùng Phúng (nơi cắm ngọn cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh). Từ đồn 201 có thể nhìn rõ con sông La Hờ (còn gọi là sông Xanh) như một sợi chỉ mảnh chảy dưới chân núi phân định ranh giới đường biên giữa huyện Bắc Hà (Việt Nam) và huyện Mã Quan thuộc Vân Nam, Trung Quốc.  Si Ma Cai, tiếng địa phương có nghĩa là bãi chợ ngựa.

Cả xã có vài bản người Mông nằm cách xa nhau, dân cư thưa thớt. Bản Gia Khâu có hai chục nóc nhà nằm phơi mình ngay giáp đường biên. Lãnh đạo Đồn biên phòng cho biết, khu vực giáp biên không khí thường xuyên căng thẳng. Cán bộ, chiến sỹ của đồn đêm ngày bám cán bộ chính quyền các xã để nắm tình hình. Củng cố thế trận ở từng xã, từng bản. Bảo đảm ổn định sản xuất, duy trì các điểm trường, lớp học. Có thể nói trong khó khăn thử thách, cán bộ, chiến sỹ Đồn biên phòng 201 luôn là điểm tựa vững vàng, làm chỗ dựa giúp người dân trụ vững.

Nhớ một đêm nghỉ tại Đồn 201, lãnh đạo đồn bố trí cho chúng tôi nằm phòng khách, nơi vẫn dành cho đồng nghiệp phía bên kia mỗi lần sang giao lưu làm việc. Nửa đêm bỗng thấy cán bộ, chiến sỹ trong đồn được đánh thức dậy hết. Tiếng chó sủa râm ran. Bấy giờ anh Lý vào phòng gọi chúng tôi dậy và trao cho mỗi người một khẩu súng, nói “Phía đường biên có dấu hiệu lạ, các anh cứ cầm cái này để đề phòng…”, nói rồi anh vụt ra ngoài chỗ mọi người. Chúng tôi chạy ra, nhìn xuống phía đường biên thấy từng ánh đèn soi sáng rực khắp dọc tuyến.

Lúc này, Hà Tiến Ất nói với tôi là nếu có xảy ra đánh nhau cũng không sợ, sợ nhất ở nhà vợ đẻ lại nhận được tin này. Rất may không có chuyện gì xảy ra, phía bên kia họ định kỳ khảo sát đường biên. Những ngày ở đây chúng tôi đã được chứng kiến tình cảm quân dân sâu đậm. Đó là cuộc giao lưu giữa đoàn thanh niên xã Si Ma Cai với Đồn 201 diễn ra sôi nổi hào hứng. Tôi bỗng nhớ truyền thuyết về vùng đất này, ví Si Ma Cai như cô gái ngủ quên trong khu rừng yên bình, hoang sơ từ lâu lắm rồi, đến hôm nay mới bừng tỉnh.

35 năm đã trôi qua, Bắc Hà – Si Ma Cai giờ đã nhiều thay đổi, đời sống người dân no ấm hơn nhiều. Khi viết những dòng này, tôi lại nhớ kỷ niệm về anh Tráng A Pao (người mới vĩnh biệt chúng ta cách đây ít ngày). Một người con của quê hương Bắc Hà đã trọn đời mình cống hiến cho sự phát triển của đồng bào các dân tộc vùng cao.

Hà Văn Thể-Xuân 2016

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.