Nhân vật trong tác phẩm văn học

Nhân vật văn học là sáng tạo độc đáo của nhà văn. Chính vì thế, nhân vật văn học sẽ không bao giờ là con người thật ở ngoài đời, kể cả đó là những “nguyên mẫu”. Xét cho đến cùng, khi nhà văn xây dựng lên nhân vật văn học giống như một cỗ xe nhằm để chuyển tải những tư tưởng, ý tưởng của nhà văn đến với người đọc, tiếng nói của nhân vật cũng chính là tiếng nói của nhà văn với thời cuộc...

Đã có khá nhiều bài viết phân tích thế nào là một tác phẩm văn học hay, tác phẩm văn học lớn; tác phẩm văn học hay phụ thuộc vào những yếu tố nào?... Không ít lập luận trong các bài viết đó có tính thuyết phục, nhưng hình như các tác giả của bài viết nhiều khi chưa đi sâu phân tích kỹ tính tối quan trọng của NHÂN VẬT trong các tác phẩm văn học. Bởi xét cho đến tận cùng, dù nhà văn có viết gì đi nữa thì đích đến vẫn là con người, nhằm phục vụ con người. Đơn giản là vì chỉ có con người mới biết đọc một cách đúng nghĩa, biết phân tích, tư duy và biết đồng sáng tạo…cùng với nhà văn.

Chính vì viết cho con người và vì con người, nên các tác phẩm văn học muốn hay, muốn trường tồn với thời gian thì không thể thiếu được nhân vật văn học, đặc biệt là nhân vật văn học trong thể loại tự sự. Nhân vật văn học thường biến hóa khôn cùng theo trí tưởng tượng và sự sáng tạo của nhà văn, khi là con người có tên, có tuổi, có họ hàng gốc tích, có tính cách rõ nét có “lý lịch trích ngang” như Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, nàng Kiều của thi hào Nguyễn Du, Giang Minh Sài của nhà văn Lê Lựu, Xuân tóc đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng… nhưng nhiều khi nhân vật chỉ là những ký hiệu K, X, I, Z…như trong các tiểu thuyết của Kafka và một số nhà văn theo chủ trương “tẩy trắng nhân vật”, hay “cái chết của nhân vật”.

Nhân vật còn là con vật như Dế mèn của nhà văn Tô Hoài, cậu Vàng của nhà văn Nam Cao… Vẫn chưa hết, nhân vật còn là cây, hoa, cá cảnh, các hiện tượng thời tiết…mà chúng ta đã bắt gặp khá nhiều trong truyện đồng thoại, cổ tích, thần thoại…

Từ trái qua: Các nhà văn Lỗ Tấn, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng - những bậc thầy trong xây dựng nhân vật văn học.
Từ trái qua: Các nhà văn Lỗ Tấn, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng - những bậc thầy trong xây dựng nhân vật văn học.

Nhân vật văn học là sáng tạo độc đáo của nhà văn. Chính vì thế, nhân vật văn học sẽ không bao giờ là con người thật ở ngoài đời, kể cả đó là những “nguyên mẫu”. Xét cho đến cùng, khi nhà văn xây dựng lên nhân vật văn học giống như một cỗ xe nhằm để chuyển tải những tư tưởng, ý tưởng của nhà văn đến với người đọc, tiếng nói của nhân vật cũng chính là tiếng nói của nhà văn với thời cuộc.

Với những tài năng lớn thì sẽ có những cỗ xe lớn để chở được những ý tưởng lớn, bao trùm hay khái quát được tính cách của một dân tộc, một đất nước, của nhân loại nói chung hoặc của một thời đại nói riêng. Những nhân vật văn học xuất hiện ở một giai đoạn văn học nào đó và nó có thể trở thành “tượng đài” bất biến theo thời gian nếu tài năng của nhà văn xây dựng được những nhân vật điển hình, như Xuân tóc đỏ, nàng Kiều, Chí Phèo, AQ, Dế Mèn, Đôn Kihôtê...

Vậy nên khi xem xét nhân vật văn học, người nghiên cứu và người đọc đừng soi xét tại sao nhân vật này lại hành động như thế này mà không hành động như thế khác. Một nàng Kiều hiền hậu, thùy mị, nết na, tài sắc như thế tại sao lại có những màn trả thù tàn khốc như vậy?

Không, đó không phải là nàng Kiều trả thù mà là cụ Nguyễn Du, đại diện cho tầng lớp bị áp bức, oan sai, lừa lọc tỏ thái độ phản kháng lại lực lượng thống trị và những “con điếm” trong xã hội đương thời. Một nhân vật Từ Hải “chọc trời khuấy nước” như thế đáng lẽ phải một mình một cõi để “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.

Nhưng cuối cùng Nguyễn Du đã “cho” Từ Hải ra hàng và chết đứng, đó vừa là cái chết của một người anh hùng nhưng cũng chính là cái chết của sự sợ hãi trong lòng người cầm bút trong xã hội đương thời vậy. Hay như Xuân tóc đỏ cũng thế, nhiều người đọc đã thốt lên rằng tại sao lại có sự vô lý như thế được, một thằng “ma cà bông”, không biết chữ vậy mà nó trở thành một nhân vật sáng chói trên vũ đài chính trị...

Đường thăng tiến của nó đúng là không thể lý giải được nên toàn bộ đổ lỗi cho “cái số nó đỏ”. Kì thực thì từ những nguyên vật liệu của xã hội đương thời, bằng tài nghệ của một nhà kiến trúc tầm thiên tài, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã khái quát và xây dựng nên một kỳ quan có một không hai trong đời sống văn học đương thời và còn cho mãi về sau.

Cái vô lý đó nó lại có lý trong xã hội đó. Nói đúng hơn là xã hội nào thì sẽ sinh ra nhân vật văn học tương xứng với nó, chỉ tiếc là những nhà văn tài năng như Vũ Trọng Phụng quá hiếm hoi để xây dựng nên một “tượng đài”. Toàn bộ cái vô lý trong con người Xuân tóc đỏ chắc không thể trùng khít với một ai đó ngoài đời nên người đọc cảm thấy vô lý, nhưng những tính cách của nó lại nằm rải rác trong rất nhiều người, nên hàng ngày, dù ít, dù nhiều, ta vẫn bắt gặp đâu đó Xuân tóc đỏ đi lại nghênh ngang ngoài đường với những chiếc xe hạng sang, những bằng cấp, những danh hiệu...đầy mình. Ta vẫn gặp đâu đó những Chí Phèo nát rượu chửi cả làng Vũ Đại...

Mỗi nhân vật văn học đều giống như một người chỉ đường, như chiếc cầu nối giữa người viết và người đọc, người viết muốn nói điều gì và người đọc nhận được điều gì đều thông qua suy nghĩ, hành động của nhân vật văn học.

Nhân vật văn học sẽ “nói” với người đọc rằng thời điểm đó, giai đoạn xã hội đó, con người nhà văn và đông đảo các lớp người trong xã hội đang có những suy nghĩ như thế nào, lời ăn tiếng nói, trang phục ra sao...và khi chức năng làm người dẫn đường đã hết thì nhân vật văn học không còn vai trò trong tác phẩm văn học nữa, nên buộc phải “biến mất”. Như khi đã đâm chết Bá Kiến rồi, Chí Phèo không còn đất để tồn tại nữa nên Chí Phèo cũng phải chết vậy.

Chức năng văn học của nhân vật Chí Phèo chính là sự thức tỉnh giữa phần người và phần con trong một con người nhân vật. Khi phần người đã được thức tỉnh mạnh mẽ, khi có được tình yêu, mơ đến mái nhà và những đứa trẻ, mơ về lương thiện, mơ về cuộc sống làm người thì Chí Phèo không thể quay lại để sống kiếp quỷ được nữa, nên Chí Phèo phải tìm đến cái chết, chức năng nhân vật văn học đã làm hết nhiệm vụ mà nhà văn giao phó.

Điều này biểu hiện rõ nhất sự cao tay và tài năng ở mỗi nhà văn, có không ít nhà văn khi xây dựng nhân vật văn học và nhân vật văn học đã làm xong nhiệm vụ nhưng không tài nào để cho nhân vật văn học “biến mất” hay lui về hậu trường được, tạo nên sự lê thê không cần thiết trong các tác phẩm văn học.

Với những gì đã viết trên đây chắc chắn sẽ không thỏa mãn đối với những nhà văn và những độc giả theo chủ trương “tẩy trắng nhân vật”, hay “cái chết của nhân vật”. Nhưng nếu bình tĩnh đọc lại những tác phẩm viết theo chủ trương, trường phái “tẩy trắng nhân vật” thì vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng của các nhân vật qua các đồ vật, qua các mẫu đối thoại, qua các kết cấu và trong các trường đoạn...của tác phẩm, những nhân vật vô cùng mơ hồ, chỉ “là một màu trắng mờ ảo” nhưng rõ ràng là vẫn có nhân vật.

Khảo sát qua lịch sử văn học chúng ta đều thấy, nếu không có nhân vật Đôn Kihôtê thì liệu hơn bốn trăm năm nay, người ta còn nhớ đến nhà văn vĩ đại của mọi thời đại là Miguel De Cervantes? Nếu không có các nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị, Khổng Minh, Quan Vân Trường, Trương Phi…thì liệu người ta có còn nhớ đến bộ tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” và nhà văn La Quán Trung? Nếu không xây dựng được nhân vật AQ thì thử xem người ta nhớ đến nhà văn Lỗ Tấn là tác phẩm gì?

Điều này càng thấy rõ hơn qua trường hợp nhà văn Nam Cao và nhà văn Nguyễn Minh Châu, xét về tư tưởng trong tác phẩm của hai ông thì đều ở tầm cao, tầm bậc thầy thiên hạ cả, nhưng nói gì thì nói, Nam Cao vẫn nổi trội hơn Nguyễn Minh Châu một tầm vì Nam Cao có được nhân vật văn học Chí Phèo quá xuất sắc. Nguyễn Minh Châu cũng có Lão Khúng, nhưng xét về mọi phương diện tầm vóc của Lão Khúng vẫn nhỏ thó hơn tầm vóc của Chí Phèo.

Có rất nhiều nhà văn có tiếng tăm vì họ thực sự có văn tài, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi chết, họ rất ít được người đời sau nhắc đến, vì nhiều lý do, nhưng có một lý do cốt yếu đó là họ không có được một hay một hệ thống nhân vật văn học điển hình, độc đáo, trở thành hình tượng văn học. Gặp một gã tốt mã hay đi lừa tình, người ta gọi ngay là thằng Sở Khanh, dù không biết tên thật của họ là gì. Gặp một người say rượu, chửi bới lung tung, thì được gọi tên là Chí Phèo; một người đi lên bằng sự láu cá, và sự nhiễu nhương của xã hội thì được gọi là Xuân tóc đỏ…

Khi nhân vật văn học đã đi được vào đời sống của quần chúng nhân dân thì nó còn sống mãi. Mà nhân vật văn học còn sống, có nghĩa là tác phẩm văn học còn sống và nhà văn – cha đẻ ra những đứa con tinh thần đó - vẫn còn sống mãi, người đời sẽ mãi nhắc đến tuổi tên. Còn nếu không có được nhân vật văn học điển hình, hay nhân vật văn học chết yểu, thì không ít nhà văn đang còn sống, nhưng tác phẩm và nhân vật của họ thực sự đã chết trong lòng độc giả.

Đối với nhà văn, đó có lẽ là điều đau khổ nhất của một đời văn. Vậy nên có thể nói rằng, mỗi nhà văn khi sáng tác, đều muốn để lại cho đời một hay nhiều nhân vật văn học điển hình mang tính biểu tượng, nhưng từ mong muốn đến hiện thực thì rất xa xôi và nhiều khi không bao giờ với tới được. Vậy nên trong lịch sử văn học, có hàng triệu nhà văn, nhưng nhân vật văn học điển hình thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Thật khó thay.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.