Nhạc sĩ Văn Ký: Cháy mãi bài ca hy vọng

Nhạc sĩ Văn Ký, sinh năm 1928, đến với nghệ thuật âm nhạc từ tuổi 15. Năm 16 tuổi ông hoạt động du kích, bị địch bắt tra tấn rất dã man nhưng một lòng kiên định bảo vệ tổ chức. Ra tù, ở tuổi 18, Văn Ký chỉ huy du kích ở huyện, là người có tài tổ chức, và nổi tiếng là “cây văn nghệ”. Nhưng cũng ít ai biết trước khi đến với âm nhạc, Văn Ký còn là một “chàng kỵ sĩ tài ba”: đua ngựa giỏi, bắn súng, bắn cung tên giỏi.

Năm 1948, ở tuổi 20, Văn Ký là Huyện đội trưởng huyện Nông Cống (Thanh Hóa), trước khi trở thành anh bộ đội Vệ quốc Trung đoàn 77 và trở thành đảng viên từ rất sớm, nhiều triển vọng, được cấp trên cử đi dự lớp bồi dưỡng Văn hóa Văn nghệ của Liên khu IV – bộ môn âm nhạc.

Nhạc sĩ Văn Ký bên cây đàn piano.
Nhạc sĩ Văn Ký bên cây đàn piano.

Được tiếp xúc với những người thầy đầu tiên tài năng và tâm huyết như nhạc sĩ Lê Yên, Nguyễn Văn Thương, Văn Ký sớm tìm ra con đường sự nghiệp của mình là âm nhạc. Tốt nghiệp khóa học, Văn Ký được điều động về cơ quan Hội Văn nghệ liên khu IV, do nhà thơ Lưu Trọng Lư làm Chủ tịch. Trong Ban chấp hành Văn nghệ Liên khu cùng thời có các nhà thơ: Thanh Tịnh và Chế Lan Viên.

Tiếp cận với môi trường văn nghệ, Văn Ký sớm bộc lộ khả năng sáng tác và trở thành nhạc sĩ nhiều triển vọng, được Hội Văn nghệ Liên khu IV cử vào Bình – Trị - Thiên (Quảng Bình – Quảng Trị và Thừa Thiên) đi thực tế sáng tác, cùng với nhạc sĩ Minh Hiến và Hải Châu (Hải Châu là em ruột nhà nghiên cứu lý luận Văn nghệ Hải Triều).

Bốn ca khúc đầu tiên của ba nhạc sĩ được đồng bào Bình – Trị - Thiên đón nhận nồng nhiệt, đó là bài “Trâu ra” và “Qua đường quốc lộ” của Hải Châu, “Ta đào, ta rào” của Minh Hiến và “Bình Trị Thiên quật khởi” của Văn Ký, được các anh Hải Châu và Minh Hiến dàn dựng khá công phu. Bài “Bình Trị Thiên quật khởi” sau này trở nên nổi tiếng, được danh ca Quốc Hương thể hiện khá thành công.

Năm 1954, ở tuổi 26, nhạc sỹ Văn Ký được cử làm Trưởng đoàn Ca múa nhạc Liên khu IV ra Hà Nội dự “Đại hội Văn công toàn quốc”. Chương trình của Đoàn ca múa nhạc Liên khu IV được hội diễn đánh giá cao, được Ban tổ chức tặng giải thưởng.

Qua hội diễn, Văn Ký thể hiện rõ tài năng sáng tác và khả năng tổ chức chỉ huy chương trình biểu diễn. Ông đã lọt vào “mắt xanh” của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, lúc đó là Trưởng ban tổ chức trù bị “Đại hội thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam”. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát trao đổi với đương kim Chủ tịch Hội Văn nghệ Liên khu IV, nhà thơ Trần Hữu Thung để xin Văn Ký về Hà Nội tham gia “Ban trù bị thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam”.

Trong Đại hội, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát được bầu là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Văn Ký trúng cử Ban chấp hành cùng với các nhạc sĩ tên tuổi như Văn Cao, Trần Hoàn, Nguyễn Đức Toàn... ông được giữ lại cơ quan Hội với tư cách là “Ủy viên thường trực”.

Nhạc sĩ Văn Ký viết “Bài ca hy vọng” năm 1958, ở tuổi 30. Cuối năm 2019, ở tuổi 90, chỉ trong hơn mười ngày, ông đã viết xong hai bài: “Dệt mùa thu xanh” và “Đêm trăng Hạ Long”, phổ thơ của Hoàng Kim Đáng. Trao đổi với Diệu Ân, tác giả của cuốn sách “Hành trình bài ca hy vọng” viết về nhạc sĩ Văn Ký. Diệu Ân hỏi Văn Ký: “Tại sao ông viết nhanh đến như vậy?”. Ông cười và trả lời: “Trong thơ của Hoàng Kim Đáng đã có nhạc rồi!”. 

Mới đây, bài “Cô vít phải lùi xa!” vừa in trên Tạp chí “Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam!” để tặng các thầy thuốc Việt Nam “chống dịch như chống giặc”. Có lẽ đây là bài hát cuối cùng của nhạc sĩ Văn Ký. Vẫn nét nhạc và lời ca hào sảng, tươi sáng và tràn đầy hy vọng. “Cô vít – kẻ thù vô hình/ Không quốc tịch/ Không màu da/ Như cơn bão tràn qua/ Cả địa cầu chao đảo!/ Việt Nam ơi/ Hãy đồng lòng xông tới.../ Chẳng kẻ thù nào đánh gục được chúng ta!...”.

Nhạc sĩ Văn Ký bên Hồ Gươm – mùa xuân 2019.
Nhạc sĩ Văn Ký bên Hồ Gươm – mùa xuân 2019.

Hơn 70 năm hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc, nhạc sĩ Văn Ký đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm gồm ca khúc, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng, trở thành nhạc sĩ rất nổi tiếng với “BÀI CA HY VỌNG”; “NHA TRANG MÙA THU LẠI VỀ”; “TÂY NGUYÊN BẤT KHUẤT”; “TRỜI HÀ NỘI XANH”; “HÀ NỘI MÙA XUÂN”; “CÔ GIÁO TàY CẦM ĐÀN LÊN ĐỈNH NÚI”... Nhưng chỉ riêng “BÀI CA HY VỌNG” khi được tung lên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam đã làm nên một tên tuổi Văn Ký cực kỳ nổi tiếng không chỉ trong nước và quốc tế mà còn được mọi thế hệ và mọi lứa tuổi người Việt Nam đón nhận, mà âm thanh của bài ca trong trẻo, vút cao, vang xa, có sức mạnh mở toang cánh cửa “xà lim”; “chuồng cọp”, truyền cảm hứng cho tù nhân có được niềm tin và hy vọng vào ngày mai tươi sáng!

Từ trong xà lim, chuồng cọp, “Bài ca hy vọng” sau đó mới đến với giới âm nhạc đô thành Sài Gòn. Họ cảm phục tù nhân: “Ở trong lao tù mà có được một bài ca hay đến thế!”.

Sau này, được nghe ca sĩ Khánh Vân hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, nhạc sĩ Trần Long Ẩn mới biết “Bài ca hy vọng” là của một nhạc sĩ Cộng sản chính hiệu, một tài năng âm nhạc lớn, được các nhạc sĩ trong phong trào sinh viên ngưỡng mộ, coi như một “thần tượng âm nhạc Cách mạng”, đó chính là nhạc sĩ Văn Ký!

Những người hát “Bài ca hy vọng”, chỉ huy dàn dựng bài hát đầu tiên cũng là những tù nhân chuồng cọp, là chị Bẩy Hiền, là chị Trương Mỹ Hoa, là chị Nguyễn Thị Châu (vợ anh Lê Hồng Tư – người giương cao ngọn cờ đấu tranh bất khuất của phong trào sinh viên), là chị Phan Thị Quyên (vợ Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi)...

Người truyền bá đầu tiên trên làn sóng điện của chính quyền Sài Gòn là ca sĩ Thái Thanh (miền Nam), là ca sĩ Khánh Vân, là Nghệ sĩ nhân dân Lê Dung (miền Bắc). Hát ở trong tù và sau giải phóng 30/4/1975, khi chị Châu trở thành Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 10, TP Hồ Chí Minh, chị vẫn hát “Bài ca hy vọng”!

Chị Trương Mỹ Hoa từng hát ở trong xà lim, chuồng cọp, hát khi trở thành Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và sau này trở thành Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, chị vẫn say sưa hát “Bài ca hy vọng”!

Ca sĩ Khánh Vân trong đoàn ca múa nhạc Trung ương đã hát “Bài ca hy vọng” ở trên 40 quốc gia trên thế giới. Sau Khánh Vân là các danh ca: Lê Dung, Trung Kiên, Bích Liên, Tùng Dương, Mỹ Linh, Lan Anh, Rơ Chăm Pheng, Trọng Tấn, Hồ Quỳnh Hương, Hồng Nhung, Thanh Thúy, Khánh Linh, Nguyễn Thảo, Uyên Linh cùng rất nhiều ca sĩ trẻ và biết bao người dân Việt nam nữa cũng đã từng hát “Bài ca hy vọng”.

“Bài ca hy vọng” còn bay qua biên giới, khiến các ca sĩ Nhật Bản, Nga, Séc, Trung Quốc, Lào... cùng ca vang khi hát bằng tiếng của nước họ, khi bằng tiếng Việt. Bài hát còn được sử dụng thường xuyên trong các kỳ thi tốt nghiệp về âm nhạc, trong hội diễn, liên hoan văn nghệ, trong các cuộc thi ca nhạc chuyên nghiệp. “Bài ca hy vọng” còn được soạn cho độc tấu sáo, ghi ta, vi-ô-lông, vi-ô-lông xen, pi-a-nô và các dàn nhạc giao hưởng, dàn nhạc dân tộc, sử dụng trong nhạc phim, trong các chương trình “Giai điệu tự hào”, “Những bài ca đi cùng năm tháng”, “Người của công chúng”, “Còn mãi với thời gian”, “Con đường âm nhạc”...

Ngày 26/10 vừa qua, người nhạc sĩ của “Bài ca hy vọng” đã tạm biệt cõi trần gian để chu du trong chốn bồng lai tiên cảnh. Ông hưởng thọ 92 tuổi. Dẫu biết đời người là hữu hạn, sinh tử là quy luật của đời người, song khi nghe tin báo chí và các phương tiện đại chúng đưa tin tác giả “Bài ca hy vọng” ra đi, người hâm mộ vô cùng tiếc nuối. Nhưng tôi vẫn cứ nghĩ, với Văn Ký, sức sống của ông, tài năng của ông, đức độ của ông rồi sẽ trường tồn  mãi theo thời gian, qua năm tháng, như sức sống mãnh liệt của  “Bài ca hy vọng”.

Hoàng Kim Đáng

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.