Kỷ niệm 66 năm ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội (10/10/1954 - 10/10/2020):

Nhạc sĩ Văn Cao và ca khúc "Tiến về Hà Nội"

Ca khúc “Tiến về Hà Nội” như trong tiểu sử của tác giả cố nhà thơ nhạc sĩ Văn Cao thì được viết năm 1947(1). Có tài liệu lại nói viết năm 1948 và chính thức ra mắt năm 1949, nhưng điều chắc chắn là được viết sau thành công vang dội của “Trường ca Sông Lô” bất hủ, do sự khuyến khích của Tướng Lê Quang Đạo(2).

Đúng như trong hồi ký của Văn Cao viết: “Tôi còn nhớ trong một buổi họp chi bộ ở Liên khu III, tôi đã hứa với các đồng chí Khuất Duy Tiến và Lê Quang Đạo. Anh Đạo nắm tay tôi và nói: “Những ca khúc của cậu làm tôi rất xúc động, (xưng hô bằng cậu tớ chứ không đồng chí gì hết) nhất là bài “Làng Tôi” và “Trường ca sông Lô”.  Nét nhạc và lời ca thơ mộng lắm, hùng tráng lắm mà vẫn lạc quan làm mình rất nhớ Việt Bắc. Dù sao thì cái chất lãng mạn của cậu vẫn không thay đổi. Riêng bài Trường ca sông Lô, không những lời ca hay mà nét nhạc lại rất du dương và hùng tráng nữa chứ! Vậy nếu cậu yêu Hà Nội, nhớ Hà Nội thì hãy sáng tác cho Hà Nội một bài hát vừa hùng tráng, vừa trữ tình nhé”. Khi anh Đạo tiễn tôi ra về, anh đã khoác vai tôi trên đường làng một quãng dài. Anh thủ thỉ nói với tôi: “Khẩu hiệu của Trung ương là “Tất cả cho Tổng phản công!” Nhưng nếu có một bài hát cho Hà Nội đầy tình cảm, cũng là mơ ước của những người dân Thủ đô đấy!”.

Đêm ấy ra về đi dọc đường làng Đào Xá, dưới trăng sáng mờ ảo lung linh bên những rặng tre xanh là những nét nhạc đầu tiên của bài “Tiến về Hà Nội” đã đến với tôi: “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về...”. Chỉ hai tuần sau đó, tôi đã viết xong ca khúc “Tiến về Hà Nội” đã được anh Khuất Duy Tiến cho in ngay vào báo Thủ đô hồi ấy. Trong kỷ niệm của tôi khi làm báo Thủ đô, tôi nhớ nhất là nụ cười hồn hậu của anh Lê Quang Đạo, khi ngồi nghe tôi và các bạn tôi hát bài “Tiến về Hà Nội”!

Bài “Tiến về Hà Nội” không cánh mà bay rất cao, rất xa. Bộ đội hát, dân công hát, nhân dân Nam Bắc đều hát theo nhịp hành khúc “Tiến về Hà Nội”. Bài hát “bay” cả vào nhà tù đế quốc. Tù nhân hát, họ hát như xé toang lồng ngực. Họ hy vọng một ngày không xa sẽ cùng quân dân tiến về Hà Nội: “Trùng trùng quân đi như sóng...”! không hiểu sao tự nhiên có dư luận tung lên, sặc mùi đố kỵ rằng: Bài hát ra đời năm 1949 khi đất nước đang còn trong giai đoạn cam go mà đã lạc quan tếu! Đã hò hét nhau tiến về Hà Nội! Họ tự cho mình cái quyền được “dạy bảo” và quy chụp vô lối, sặc mùi đánh hôi và cơ hội. Nhạc sĩ Văn Cao khi ấy tuy còn trẻ nhưng rất bình tâm và nghe ngóng không phản ứng và cũng không thanh minh. Đến ngày 10/10/1954, cả Hà Nội một khí thế bừng lên: “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về / Chúng ta đi reo vui, lúc quân thù đầu hàng / Cờ ngày nào tung bay trên phố!...”.

Những gì diễn ra sáng ngày 10/10/1954, rợp trời cờ hoa cùng hàng vạn người vui sướng đến rơi nước mắt. Khi chúng ta được xem những trường đoạn phim của nhà quay phim Liên Xô nổi tiếng Các – Men mới thấy đúng như Văn Cao đã mô tả cách đây đã 5 năm. Chưa cần nghe nhạc, chỉ đọc phần lời bài hát đã thấy tài năng trong tư duy tưởng tượng của Văn Cao là siêu phàm, rằng: “Năm cửa Ô đón mừng đoàn quân tiến về/ Như đài hoa xuống cành nở năm cánh đào/ Chảy dòng sương sớm long lanh...”. Tác giả chưa cần viết nhạc, chỉ riêng phần lời nhưng đã có văn, có thơ, có nhạc, có họa, mà cũng có cả phần tử tung tin lạc quan tếu! Thử hỏi rằng tác giả Văn Cao không phiền lòng sao được?

Tháng 9/1986, nhà văn Tô Hoài cử tôi đến gặp nhạc sĩ Văn Cao để đặt ông viết bài dưới dạng hồi ký khi sáng tác bài “Tiến về Hà Nội” để kịp in trên Tuần báo Văn Nghệ Người Hà Nội số ra ngày 10/10/1986 – Thời kỳ mở đầu cho công cuộc đổi mới đất nước. Lúc đầu ông do dự và tâm sự nhiều. Tôi hiểu, bởi cái án vô hình “Nhân văn giai phẩm” vẫn treo lơ lửng trên đầu ông; lại còn bị tiếng “lạc quan tếu!” nữa chứ!. Ông không nói ra nhưng tôi cũng đủ hiểu và ông cũng chỉ do dự thôi. 

Tôi nhớ như in những lời buột ra từ tâm tư của nhạc sĩ Văn Cao: “Mình không viết ra thì sau này ai biết đâu cái suy nghĩ của thằng nghệ sĩ trước những sự kiện trọng đại của đất nước, của dân tộc khi đưa vào tác phẩm nó khó khăn, lao tâm khổ tứ, nó đòi hỏi đến tài năng, sự tiên cảm nghệ sĩ là thế nào?.... Khi sáng tác “Tiến quân ca” và “Tiến về Hà Nội” tôi đều có linh tính, cảm nhận, đón bắt sự kiện, tưởng tượng để hoàn thành tác phẩm trước khi sự kiện lịch sử sẽ đến với nó”. Xin độc giả hãy đọc đôi dòng của cố nhạc sĩ Văn sẽ rõ. Thời kỳ này vẫn phải ký tên tác giả chỉ là “Văn” mà không có chữ “Cao”!

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 1986. Anh Hoàng Kim Đáng thân mến!

Giữ đúng lời hứa với anh, tôi đã viết xong bài hồi ký kỷ niệm ngày tôi viết  “Tiến về Hà Nội”. Chiều hôm qua tôi chờ mãi mà không thấy anh tới, chắc vì trời mưa. Hôm nay tôi nhờ cháu Hòa mang tới để anh kịp in vào số báo ngày 10/10/1986 tới. Nếu như chữ nghĩa còn trúc trắc hoặc câu văn chưa gọn, anh có thể sửa vài chữ cũng không sao. Tình hình thông qua ban lãnh đạo Tòa báo như thế nào thì mong anh cho biết sớm nhé. Nhờ anh đánh máy quá cho tôi xin một bản và tôi xin lại bản viết tay này nhé. Chúc anh khỏe và vui. Thân mến!, Văn Cao”.

Trong bức thư này ông mới ký tên đủ hai chữ Văn Cao, còn trong tác phẩm in trên báo vẫn chỉ ký chữ “Văn” mà thôi. Bài này thì Tòa soạn sẽ ký đủ tên tác giả là Văn Cao hẳn hoi để bạn đọc biết đến tác giả “Tiến về Hà Nội” còn khỏe cả về tinh thần, trí tuệ và cả thân thể nữa.

Hôm tôi đến gửi nhạc sĩ Văn Cao bản đánh máy và bản viết tay, ông rất vui mời tôi chén rượu và nói chậm rãi:

- Anh đặt tôi viết thì xin cảm ơn. Dù in hay không in vẫn là của tôi. Tôi nhận lời viết và đáp lại cái tình mà anh có nhã ý đến với tôi. Không biết thời điểm này Tô Hoài, ông chủ bản báo của anh đã chịu in cho tôi chưa?

Tôi liền trả lời ngay:

- Thưa chính bác Tô Hoài cử Đáng đến gặp bác để đặt bài viết đấy ạ!

- Thế hả. Văn Cao sẽ chờ bài đó ra mắt đúng ngày 10/10/1986. Xin chúc mừng và cạn chén!

22/9/1986 – 22/10/2020

Hoàng Kim Đáng

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.