Nhà văn xứ Đồng Nai cả đời miệt mài cầm bút

Nhà văn Hoàng Văn Bổn (7/5/1930 -12/5/2006) để lại cho cuộc đời một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, đóng góp không nhỏ ở cả hai lĩnh vực văn chương và phim tài liệu. Sau 15 năm nhà văn Hoàng Văn Bổn không còn trên dương gian, viết về ông cũng là một cách suy ngẫm về phẩm giá người cầm bút dấn thân vì đất nước, vì nhân quần.

Thật không đơn giản, nếu muốn tỉ mỉ liệt kê hơn 50 đầu sách và 25 kịch bản phim tài liệu cũng như các giải thưởng của nhà văn Hoàng Văn Bổn. Chỉ cần biết rằng, nhà văn Hoàng Văn Bổn là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của văn học Đồng Nai nói riêng và văn học miền Nam nói chung. Thật thú vị khi hình dung, dòng sông Đồng Nai ở ngã ba chia ranh giới tự nhiên giữa huyện Tân Uyên của tỉnh Bình Dương và huyện Vĩnh Cửu của tỉnh Đồng Nai, đã bồi đắp nên bốn nhân vật cầm bút nổi danh Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc và Hoàng Văn Bổn. 

Nhà văn Hoàng Văn Bổn tên thật là Huỳnh Văn Bản. Từ nhỏ, cậu bé ham học Huỳnh Văn Bản đã phải sớm ưu tư vì cảnh quê hương bị kẻ thù giày xéo. Gia đình đông anh chị em của Huỳnh Văn Bản cũng sớm hứng chịu mất mát đau thương, mà sau này ông trong cuốn “Tuổi thơ ngọt ngào” đầy xót xa: “Lần đầu tiên tôi và bà con xung quanh khóc, không hẳn khóc vì sợ Tây, sợ chết, tiếc nuối nhà cửa, tài sản. Mà lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình là con vật trong tay chúng, mình không còn chút quyền hành nào là của mình, của một con người. Đó là lần đầu tiên tôi xa quê hương giữa lúc hai chân tôi còn đứng trên mảnh đất quê hương”. 

Nhà văn Hoàng Văn Bổn
Nhà văn Hoàng Văn Bổn

Đó là lý do chàng thiếu niên Huỳnh Văn Bản quyết định đi làm thư ký Việt Minh xã, thư ký Ủy ban nhân dân xã, Chủ tịch Hội Nhi đồng cứu quốc xã… Năm 1951, Huỳnh Văn Bản gia nhập quân đội và hành quân từ Chiến khu Đ về Phân liên khu kháng chiến U Minh. Chính chuyến đi từ miền Đông Nam bộ về miền Tây Nam bộ đã hình thành nhà văn Hoàng Văn Bổn.

Lúc còn đi học ở Tân Uyên, chàng trai Huỳnh Văn Bản đã từng thử cầm bút viết tác phẩm “Hai khẩu súng lục” vì người chị của mình thích đọc tiểu thuyết. Tác phẩm “Hai khẩu súng lục” chỉ là những trang bản thảo dang dở, được lưu giữ như một kỷ niệm. Suốt 3 tháng lặn lội từ Đồng Nai về Cà Mau, những ký ức về cuộc tranh đấu của quân dân quê nhà đã cồn cào và thôi thúc Huỳnh Văn Bản viết văn. Ngày đi bộ, tối nghỉ bên đường, Huỳnh Văn Bản cặm cụi viết tiểu thuyết đầu tay “Vỡ đất” và ký tên Hoàng Văn Bổn.

Bản thảo “Vỡ đất” khi mang vào U Minh, nhà văn Hoàng Văn Bổn đã nhờ cậy một cậu bé theo gia đình kháng chiến là Diệp Minh Tuyền đánh máy lại. Tiểu thuyết “Vỡ đất” đã lọt vào mắt xanh của những người chủ trì Chi hội Văn nghệ Nam bộ lúc ấy như Lưu Quý Kỳ, Hà Mậu Mai, Huỳnh Văn Gấm… và được trao Giải thưởng Cửu Long năm 1952, cùng đợt với tác phẩm “Bên rừng Cù lao Dung” của nhà văn Sơn Nam. Tiểu thuyết “Vỡ đất” được Nhà xuất bản Dân Chủ đóng ở Cái Nước - Đầm Dơi in thành hai ấn bản khác nhau, một bản giữ nguyên tên gọi “Vỡ đất” phát hành trong vùng kháng chiến và một bản lấy tên “Giọt mưa thu” để phát hành ngoài vùng kháng chiến.

Rừng U Minh không chỉ chứng kiến nhà văn Hoàng Văn Bổn không chỉ chính thức bước vào văn đàn Việt, mà còn đem lại cho ông nhiều chất liệu sáng tạo. Ngoài cậu bé Diệp Minh Tuyền lớn lên trở thành nhà thơ - nhạc sĩ nổi tiếng, thì những đứa trẻ ở kênh 9, xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau đã trở thành nhân vật để sau này nhà văn Hoàng Văn Bổn viết truyện dài thiếu nhi “Tướng Lâm Kỳ Đạt”. 

Năm 1953, nhà văn Hoàng Văn Bổn được bổ sung vào Tiểu đội trợ chiến cho Tiểu đoàn 307 đánh trận Xẻo Rô. Và thực tế sinh động đã làm nên tiểu thuyết thứ hai của nhà văn Hoàng Văn Bổn là “Bông hường bông cúc”. Vì sao tiểu thuyết “Bông hường bông cúc” được nhà văn Hoàng Văn Bổn ghi chú “Viết năm 1954 tại miền Tây Nam bộ. Xong năm 1956, biên giới Lào - Việt, miền Bắc”? Đó chính là sự lận đận và ly kỳ của một tác phẩm. Tiểu thuyết “Bông hường bông cúc” hoàn thành đầu năm 1954 và được Chi hội Văn nghệ Nam bộ đưa vào kế hoạch xuất bản. Thế nhưng, khi “Bông hường bông cúc” đang nằm ở nhà in thì Hiệp định Geneva được ký kết nên bản thảo phải tháo dở để mang xuống tàu ra Bắc. 

Nhà văn Hoàng Văn Bổn cũng tập kết, nhưng được Tiểu đoàn Thông tin của Bộ Tổng tham mưu đưa sang Lào làm đường dây bí mật vào vĩ tuyến 17. Lúc nhà văn Hoàng Văn Bổn đang ở trong sân nhà Hoàng thân Suphanuvong thì nhận được thư của nhà văn Đoàn Giỏi: “Bản thảo “Bông hường bông cúc” đã thất lạc. Có thể viết lại không?”. Phản ứng của nhà văn Hoàng Văn Bổn được chính ông ghi lại trong hồi ký: “Tôi đành nuốt nước mắt, ngày lao động nặng nhọc với anh em, đêm đốt đuốc nứa ra rừng nhớ lại, viết lại từ đầu tiểu thuyết “Bông hường bông cúc”. Có đêm, quá mệt mỏi, buồn ngủ, tàn thuốc rơi xuống cháy tóc khét lẹt, mới giật mình, tiếp tục cầm bút. Vắt bám đỏ chân, cổ. Viết xong, gửi hú họa về Hà Nội cho Nhà xuất bản Văn nghệ. Vậy mà mấy tháng sau, nhận được thư của nhà văn Tô Hoài thông báo sách đã in”.

Trong sự nghiệp của nhà văn Hoàng Văn Bổn có những cuốn sách công phu như tiểu thuyết “Miền đất ven sông” với 3 tập, tiểu thuyết “Khắc nghiệt” với 4 tập, hoặc tiểu thuyết “Nước mắt giã biệt” 4 tập. Tuy nhiên, có một mảng đóng góp nữa rất quan trọng của nhà văn Hoàng Văn Bổn là phim tài liệu. Sau giai đoạn công tác ở Lào, ông được rút về Xưởng phim Quân đội, và trực tiếp có mặt trên nhiều mặt trận nóng bỏng như một phóng viên chiến trường. Những phim tài liệu có nhà văn kiêm nhà báo Hoàng Văn Bổn tham gia, được gần chục Bông Sen Vàng và Bông Sen Bạc. Trong đó, có phim tài liệu “Hàm Rồng” được Giải thưởng quốc tế Giorio Ivens. 

Nhà văn Hoàng Văn Bổn kể lại những ngày một người con của sông Đồng Nai tác nghiệp ở sông Mã để phản ánh cầu Hàm Rồng - Thanh Hóa năm 1967: “Vừa đặt máy quay, hòm phim xuống, bỗng pháo chân cầu nổ liên động. Rồi cả vùng chân cầu chìm ngập trong khói bom… Một bầy phản lực bất thần hạ độ cao lướt ầm ầm sát ngọn cây… Một quả tên lửa “Bun - pớp” từ một tảng mây đục réo phừng lướt sát trận địa C5 giữa đống đá, chếnh choáng… Quả tên lửa mất cha ấy lao xuống nổ tung cạnh mâm cơm của chúng tôi. Chiếc chảo quân dụng tung vọt lên ngang đọt dừa quay tít… 

Trận địa C5 “bố già” Nguyễn Gia Nhuệ vẫn nổ súng đường hoàng, phóng từng chùm đạn hoàn toàn bất ngờ nguy hiểm vào sườn địch. Hăm hai chiếc (máy bay) trên đầu “bố già”, bám riết lấy trận địa giữa đống đất đá ấy… Máy quay chúng tôi chạy say sưa, nuốt gọn cảnh đọ sức kỳ diệu giữa “bố già” và hăm hai thằng giặc Mỹ. Một ngọn dừa bị phạt ngay cạnh máy quay. Hai mảnh bom bay tè tè, phang ngang vào mô đất chúng tôi ẩn nấp… Chúng tôi xông vào, luồn dưới một nòng pháo nóng rát quay vùn vụt về hướng 14… Ụych một cái, đất xích mạnh như đua võng. Sườn đập vào vách hào. Quả tên lửa thứ nhất nổ đánh rắc về phía “bố già”, khói xộc vào mũi sặc sụa. Quả thứ hai nổ cách chúng tôi độ bảy tám mét gì đó, khói cay xè”.

Trong một dịp đón tiếp đoàn nhà văn Cu Ba sang thăm Việt Nam vào năm 1974, nhà thơ Chế Lan Viên đã giới thiệu với đồng nghiệp quốc tế về nhà văn Hoàng Văn Bổn “là người đội bom đạn Mỹ nhiều nhất trong giới nhà văn chúng tôi”. Trải qua khói lửa, nhà văn Hoàng Văn Bổn có được bút ký “Hàm Rồng” và phim tài liệu “Hàm Rồng” tạo ấn tượng mạnh mẽ trong và ngoài nước, nhưng ông vẫn bày tỏ sự khiêm tốn: “Bản thân tôi cũng nhiều lần nhờ cái tính ngu ngơ, khờ khạo kém mắt, kém phản ứng linh hoạt mà thoát chết”.

Sau 30 năm xa nhà hoạt động cách mạng, nhà văn Hoàng Văn Bổn quay lại sống với quê nhà từ năm 1980. Ông làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai rồi làm Giám đốc Nhà xuất bản Đồng Nai. Hình ảnh ông già cao lêu nghêu mỗi ngày đạp xe trên đường phố Biên Hòa được mọi người gọi bằng cái tên trìu mến “anh Chín Bổn” trở thành một vẻ đẹp của văn hóa Đồng Nai những năm cuối thế kỷ 20. 

Năm 2007, nhà văn Hoàng Văn Bổn được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhớ đến ông là nhớ đến một thế hệ cống hiến hết mình như ông bộc bạch: “Tôi viết bất cứ giờ trống nào, ở chỗ nào, nhất là lúc thiên hạ vui chơi, liên hoan chiến thắng, nghỉ ngơi… Trên ôtô ra chiến dịch, tôi tranh thủ chữa, viết. Bị bom đánh, tôi nhảy xuống hầm cùng anh em, xong lại viết tiếp. Ban đêm lúc mọi người ngủ, tôi viết. Viết lúc họp hội nghỉ Đảng ủy, viết lúc học tập chính trị… viết lúc B52 cạo gọt các ngọn đồi chung quanh, xiết vòng vây vào chỗ hầm tôi… Với tôi, mỗi trang bản thảo đều đổi bằng cái giá không biết thế nào mà tính được. Đắng cay lắm. Mỗi một dòng, một trang sách đối với tôi (ít tài năng) thì phải trả bằng cả cuộc đời, bằng trăm nghìn thứ hy sinh”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.