Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Đi qua bến nước mười ba...

Khi tôi về Văn nghệ Quân đội thì Sương Nguyệt Minh đã không còn làm Trưởng ban Văn xuôi của tạp chí nữa. Văn nghệ Quân đội có một truyền thống rất “lạ kì” là nhiều lãnh đạo, trưởng ban của tạp chí xin thôi chức giữa kì để trở thành một nhà văn thuần túy, Sương Nguyệt Minh cũng là một trường hợp như vậy.

Người ta thường bảo những người ở Văn nghệ Quân đội thường có cá tính  mạnh, lúc đầu tôi cũng không chắc thế, nhưng càng về sau tôi càng thấy đúng. Quen biết Sương Nguyệt Minh lâu tôi biết anh đúng là một tay vừa hổ lửa vừa hồn nhiên, lại có khi lạnh lùng, phớt đời. Anh đã yêu ai thì yêu hết mình, người anh yêu có sai thì anh cũng quyết ngăn đập, đắp đất chắn sóng đã, rồi hồi sau mới đóng cửa bảo nhau, còn ai bị ghét thì anh hoặc là lặng lẽ phớt lờ, không nhắc đến tên, coi như người đó không tồn tại trong đời anh, hoặc là quyết liệt phải trái đến cùng. Thời gian càng trôi đi, tuổi anh càng nhiều thêm thì anh càng điềm đạm, đằm sâu, bây giờ thì dường như anh chẳng còn ghét ai.

Cái bút danh Sương Nguyệt Minh của anh thế nào thì nhiều người biết rồi, đại khái nó ghép từ tên thật của anh, vợ, con trai và bị người ta làm cho chệch đi nhưng tôi không hiểu một người bướng bỉnh như anh lại cam chịu giữ nguyên như thế! 

Bước vào làng văn, Sương Nguyệt Minh đã gây ra một cú xì căng đan lớn với truyện ngắn đầu tay “Nỗi đau dòng họ”, bởi nguyên mẫu, sự kiện của truyện giống thật quá và người ta đã kiện anh đến long tóc gáy và phải tốn bao nhiêu thời gian cùng giấy mực vụ đó mới êm xuôi!

Rồi Sương Nguyệt Minh lại bị “tai nạn” nghề nghiệp lần thứ hai. Tập truyện ngắn “Dị hương” của anh được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 và có nhiều ý kiến trái chiều dữ dội vì anh viết về một cặp nhân vật lịch sử luôn luôn gây tranh cãi: Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh. Bản thân tôi thấy đó là một truyện ngắn hay và đặc sắc của Sương Nguyệt Minh, một cú ngoặt lớn. 

Truyện ngắn lịch sử duy nhất của anh vừa công bố đã gây ra giông tố. Lúc đó tôi còn non nớt trong làng văn và mới về cơ quan nên cũng chỉ biết lắng nghe, hiểu được phần nào nỗi buồn của anh, không biết nói thế nào vì khi ấy tôi còn sơ với anh. Nhưng càng lùi xa tôi càng thấy những tai nạn nghề nghiệp khiến người ta trưởng thành, vững vàng hơn rất nhiều và đôi khi chuyện đó rất khó tránh với giới văn nghệ sĩ. 

Những ý kiến trái chiều là một phần của đời sống văn nghệ, chẳng phải khi bộ ba truyện ngắn lịch sử: “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”, “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp khi mới ra đời cũng chịu bao búa rìu dư luận đó sao và chúng giờ vẫn là những truyện hay nhất của Nguyễn Huy Thiệp. Những tác phẩm càng bị người ta tranh luận thì sức sống và sự hấp dẫn của chúng càng lớn. 

Tôi cho rằng những truyện kể trên của Nguyễn Huy Thiệp cùng với “Dị hương” của Sương Nguyệt Minh là tập hợp những truyện ngắn hay nhất viết về “cặp đôi” đối lập gây tranh cãi bậc nhất trong lịch sử là vua Quang Trung và Gia Long.

Nhưng không phải qua “Dị hương” người ta mới biết đến Sương Nguyệt Minh, trước đó anh đã là cây truyện ngắn có tiếng và là biên tập viên rất tâm huyết của Văn nghệ Quân đội. Anh là người rất có duyên với các giải thưởng văn chương và các nhà điện ảnh, nhiều truyện ngắn của anh đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh và đạt được những thành công đáng kể.

Bìa tiểu thuyết “Miền hoang” của nhà văn Sương Nguyệt Minh.
Bìa tiểu thuyết “Miền hoang” của nhà văn Sương Nguyệt Minh.

Đã lớn tuổi nhưng Sương Nguyệt Minh vẫn còn ham học, khi tôi về Văn nghệ Quân đội, một lớp học tiếng Anh nho nhỏ đã được hình thành và tôi đứng lớp. Thành viên của lớp học bao gồm nhà văn Khuất Quang Thuỵ, Sương Nguyệt Minh, Đỗ Tiến Thuỵ, Nguyễn Mạnh Hùng và một người bạn nữa. 

Khuất Quang Thuỵ lớn tuổi nhất lớp nhưng rất sáng ý, Sương Nguyệt Minh là đàn anh thứ nhì nhưng cũng khá “ngoan ngoãn” học bài, chỉ có hai “ông” Đỗ Tiến Thuỵ và Nguyễn Mạnh Hùng thì ganh đua nhau rất quyết liệt về điểm số! Một lớp học toàn Đại tá, Trung tá “máu mặt” nên rất sôi nổi, đặc biệt ở các bài dịch thì các nhà văn luôn là những người rất sáng tạo và linh hoạt về ngôn ngữ.

Nếu ai thân với Sương Nguyệt Minh thì biết anh là người có chủ kiến quyết liệt và rất hăng hái. Buổi họp mặt nào có anh không khí đều rất tưng bừng, sinh động và  anh thường là người lĩnh xướng. Sương Nguyệt Minh đã đưa ra ý kiến thì quyết không chịu lùi bước và thua cuộc, thậm chí có lần anh đã suýt có cuộc “đấu súng” với một ông Tướng chỉ vì kiên quyết bảo vệ ý kiến của mình.

Tôi đã đến chơi nhà Sương Nguyệt Minh vài lần và bạn bè văn chương cũng hay tụ họp nơi ấy. Đó là một căn nhà nhỏ trong ngõ trên con đường Nguyễn Xiển nhộn nhịp. Sương Nguyệt Minh là người quảng giao, quý người, nên mỗi lần tụ họp ở nhà anh đều khá đông người và luôn có những ông bạn rất khác thường nên cuộc ăn nhậu nào cũng rất vui và tưng bừng tranh luận!

Thỉnh thoảng Sương Nguyệt Minh lại phóng con xe máy Future màu xanh đến cơ quan lấy sách báo và thăm bạn bè, vì anh ở ban sáng tác nên không bắt buộc phải đến thường xuyên. Ai cũng bảo ngồi sau xe máy của Sương Nguyệt Minh thì sợ lắm vì tính anh hay giật mình vì mải nghĩ đâu đó hoặc thảng có một bóng hồng nào vụt qua khiến anh bối rối. 

Nói như thế nhưng tôi biết Sương Nguyệt Minh làm việc gì cũng say đắm và chuyên nghiệp. Thời gian khó anh đã từng làm nhiều nghề để mưu sinh, thậm chí đi buôn thượng vàng hạ cám. Làm báo làm văn, anh cũng là tay tổ và hăng hái. Hồi anh chưa làm Trưởng ban, chỉ là biên tập viên, anh đã ôm đồm gần như hết việc trong ban, ông Trưởng ban gần như chỉ việc đi chơi và kí duyệt bài anh đã chuẩn bị sẵn. 

Lúc viết báo, anh cũng năng nổ nhiệt tình, anh giữ mục cho vài tờ báo, công việc khá căng thẳng và áp lực nhưng anh viết nhởn nhơ như không. Thỉnh thoảng đi với anh, thấy kĩ năng làm báo, viết báo của anh rất chuyên nghiệp, chúng tôi nể phục và học được ở anh rất nhiều.

Mới gần đây anh công bố cuốn tiểu thuyết đầu tay “Miền hoang” và ngay lập tức gây được chú ý. Là người lính từng chiến đấu ở chiến trường Campuchia, anh đã có những trang viết rất khốc liệt và đầy xúc động về cuộc chiến chống lại quân Khmer Đỏ. Cuốn sách có những đoạn dữ dội đến mức những người đọc nhạy cảm đôi lúc phải dừng lại tĩnh tâm mới có thể đọc tiếp được.

Sương Nguyệt Minh là người cao to, điển trai, khí chất mạnh mẽ, tôi tưởng rằng những người như anh thì không bao giờ khóc, thế mà chúng tôi đã từng nhìn thấy nước mắt của anh. Trái tim nhà văn và người lính cũng có lúc không thể chịu được những nỗi đau gan ruột hoặc nỗi buồn quá lớn. Người nghệ sĩ có trái tim dễ xúc động và tâm hồn nhạy cảm, có lẽ vì thế mà họ mới dễ rung cảm trước vẻ đẹp hoặc giận dữ, phẫn nộ trước cái ác, cái xấu để viết và sáng tạo.

Những khi gặp mặt, thỉnh thoảng Sương Nguyệt Minh nói chúng tôi những lời gan ruột mà tôi vẫn ghi nhớ. Ví dụ, anh bảo, nếu định làm điều gì đó báo hiếu với bố mẹ mình thì hãy làm ngay đừng có đắn đo, chần chừ vì rất có thể sau đó không còn cơ hội làm nữa, rồi ân hận đến hết đời. Hoặc anh bảo, tất cả những câu chuyện đời hay dở của nhà văn rồi độc giả sẽ quên đi, cái còn lại là tác phẩm của họ. Nếu không có tác phẩm thì có làm ông này, bà nọ cũng không có ai nhớ hết. Có lẽ cũng vì lí do như vậy mà anh đã xin thôi chức giữa lúc đang sung sức để chuyên tâm vào sáng tác. Sau sự dứt ra với công việc hành chính và sự vụ ấy, anh đã có “Dị hương” và “Miền hoang”.

Có hai truyện ngắn của anh mà tôi rất thích đó là “Mười ba bến nước” và “Đêm thánh vô cùng”. “Mười ba bến nước” thì cay đắng, buốt giá với nỗi đau chiến tranh, hậu chiến, thân phận đàn bà. Còn “Đêm thánh vô cùng” là sự tưng tửng, nỗi cô đơn của con người ở ngay ngôi nhà của mình trong xã hội hiện đại. Những truyện đó khá dài, gọi là truyện vừa cũng được và cùng với “Dị hương”, có lẽ chúng là những góc tam giác rất điển hình trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh.

Sương Nguyệt Minh là một người nhiệt tình nên khi có những vụ việc khó xử liên quan đến văn chương và gia đình, tôi thường gọi điện cho anh để nhờ tư vấn. Cách xử lí của anh rất quyết liệt, rốt ráo. Từng là người lính trên chiến trường nên anh ít khoan nhượng và quyết liệt đi đến cùng. 

Tôi cũng học được phần nào sự cứng rắn và bản lĩnh của anh. Tôi biết anh từng nhận được những lời mời hấp dẫn về công việc, chức vụ và thù lao nhưng anh đã từ chối để làm một người tự do. Là một người tự do anh có thể viết và nói theo ý mình mà không phải quá thận trọng lo lắng. 

Một lần anh kể với tôi dự định bắt tay vào cuốn tiểu thuyết thứ hai nhưng có vẻ anh vẫn chưa gạt bỏ được những thứ vặt vãnh, để làm cho xong. Quyết liệt với đối thủ nhưng lại rất nể vì bạn bè, có lẽ thế nên anh cứ dây dưa mãi chưa dứt ra khỏi sự vụ để làm xong những kế hoạch lớn lao.

Thỉnh thoảng tôi muốn gọi điện trách móc anh về những dự định chưa thực hiện, tôi thấy tiếc cho nội lực và sự trải nghiệm của anh. Với vốn liếng ấy, sức sống ấy, có lẽ anh sẽ còn tung ra được những chưởng lực mạnh mẽ và ấn tượng hơn nữa. Một người tài hoa và đam mê, quyết liệt với văn chương như anh lại không vùng vẫy đột sáng một lần nữa cho thỏa chí ư?

Sương Nguyệt Minh, anh đã từng đi đến bến nước mười ba, nghĩa là đã dám phá vỡ cái khuôn khổ thông thường. Bây giờ anh sẽ đi đến nước thứ bao nhiêu đây, mười bốn hay mười lăm? Tôi biết một người lính thực sự sẽ không bao giờ dừng lại trừ phi anh ta hi sinh hoặc đã vươn tới đỉnh cao của đời mình...

Uông Triều

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.