Nhà văn Nguyễn Trọng Tân với “Đa đoan cõi tạm”

Từ khi còn ở trong quân ngũ, tôi và Nguyễn Trọng Tân chỉ biết tiếng nhau qua tác phẩm đăng rải rác trên các báo, tạp chí. Lần đầu chúng tôi gặp nhau vào năm 1990, Nguyễn Trọng Tân và tôi được kết nạp hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam cùng đợt ấy.

Hồi đó Nguyễn Trọng Tân đã có những cuốn sách khá đông người đọc như “Chuyện buồn thời con gái” (tập truyện ngắn, 1988), “Quyền lực xám (tiểu thuyết 1989), “Giọt sương đỏ” (tiểu thuyết, 1989)… 

Nguyễn Trọng Tân lần lượt tham gia quản lý một vài tờ báo. Chỉ là một chức quan làng nhàng thôi nhưng cũng khá bận rộn. Tuy vậy cái ngòi bút dồi dào sức sống của anh vẫn viết đều, trong đó có những tác phẩm lưu lại trong lòng bạn đọc như “Trang gia phả viết bằng vôi” (tập truyện ngắn, 1991), “Một thời để nhớ” (tiểu thuyết, 1992), “Đò chiều” (tập truyện ngắn, 1996)… 

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân.
Nhà văn Nguyễn Trọng Tân.

Nguyễn Trọng Tân không ham lắm cái việc lăng xê tên tuổi mình. Hơn mười năm có mặt ở chiến trường thời đánh Mỹ, nếm trải đủ những khốc liệt, gian lao của người lính chiến, nhưng anh ít thể hiện mình; là sĩ quan hẳn hoi nhưng chẳng thấy anh mặc quân phục, đeo huân huy chương bao giờ. 

Đọc những trang văn anh viết về chiến trường cũng không thấy có tình tiết, chi tiết nào mang tính khuếch trương, thổi phồng. Anh cứ viết như những gì mình nếm trải cũng đã đủ sức lay động trái tim của bạn đọc rồi. Hẳn vì thế mà ngày ấy đọc anh, tôi dự cảm rằng anh còn đi xa. Cuối cùng thì dự cảm của tôi đã không sai. 

Năm 2016, tiểu thuyết “Thư về quá khứ” dầy dặn với hơn 400 trang của anh ra mắt khiến bao người không thể làm ngơ. Tác phẩm viết về số phận những người lính trong chiến tranh chống Mỹ. Nếu như ở chiến trường anh ta phải căng mình ra trước những trận đánh đối đầu với kẻ thù, thì khi về hậu phương anh lại phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề nổi cộm của một xã hội chưa thoát ra khỏi hệ ý thức tiểu nông ngàn đời. Những lỡ lầm của lịch sử, gợn lên trong trái tim người cựu binh những câu hỏi: bao nhiêu con người thoát ra được cái mạng nhện lùng nhùng ấy, và bao nhiêu thì bị nó kéo trì xuống, rồi nhạt nhòa như khói mây? 

Có thể nói “Thư về quá khứ” là một tiểu thuyết có sức nặng. Nếu có bộ văn học sử viết về văn học chiến tranh mà bỏ quên tác phẩm này sẽ là rất thiếu khách quan. Cuốn sách ra mắt, khá nhiều bài viết khẳng định trên các báo và tạp chí. Nguyễn Trọng Tân chừng như đã qua cái thời bột phát những niềm vui nông nổi. Anh nói với tôi: “Chưa hẳn số phận nó đã xuôi chèo mát mái đâu”. 

Điều mà tác giả linh cảm nó đã vận vào đúng số phận anh. Không khác gì lần bị tuột mất giải nhất cuộc thi truyện ngắn hay do thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, đã quyết định trao cho tác phẩm “Trang gia phả viết bằng vôi”. “Thư về quá khứ” tham dự cuộc thi tiểu thuyết lần thứ năm (2016 – 2019) của Hội Nhà Văn Việt Nam, hội đồng Chung khảo đã chấm giải Ba. Nhưng chưa kịp trao giải thì có người dọa rằng “Thư về quá khứ” vi phạm tiêu chí bởi tác phẩm này đã được giải Nhì trong cuộc vận động sáng tác về đề tài Thương binh - Liệt sĩ năm 2017, khiến nó bị loại khỏi giải. 

Tôi không dám coi thường cuộc vận động về đề tài thiêng liêng này, song cũng cần thẳng thắn mà nói với nhau rằng cuộc vận động sáng tác ấy mang tính đề tài hơn là định giá văn chương, vì thế có rất nhiều cây bút nghiệp dư tham gia, tác phẩm làng nhàng nhưng họ cũng được giải thưởng “ngang chiếu” với “Thư về quá khứ”.

Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Trọng Tân.
Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Trọng Tân.

Sau khi “Thư về quá khứ” xuất bản, không ít người nghĩ, hẳn tác giả đã dồn hết vốn sống vào tác phẩm đó rồi. Ngờ đâu năm 2020 tiểu thuyết “Đa đoan cõi tạm” của anh ra mắt mà không hề mang một chút hơi hướng của “Thư về quá khứ”. 

“Đa đoan cõi tạm” viết về tình yêu của những sinh viên cầm súng ra chiến trường, sống sót trở về giảng đường tiếp tục học tập; quần áo, đầu tóc họ còn phảng phất mùi khét của khói súng. Họ ngồi học cùng lớp với những sinh viên tầm tuổi em út họ từ hệ phổ thông vào. Nhưng họ biết cách để tạo ra một không khí bạn bè hòa đồng, trở thành chỗ dựa tinh thần cho họ. 

Các nữ sinh viên văn khoa tuổi mười tám, đôi mươi mơ mộng, lãng mạn vì cảm phục họ mà nảy sinh tình yêu với họ. Chỉ trong cái lớp Văn của khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nơi nhà văn Nguyễn Trọng Tân học) đã có khá nhiều cặp yêu nhau chênh lệch 15, 16 tuổi như thế. 

Ngọt ngào hạnh phúc từ đấy, mà bi kịch đổ vỡ cũng sinh ra từ sự khác biệt thế hệ ấy. Rất nhiều cuộc tình ngang trái, đa đoan đã được tác giả đề cập tới như tình duyên của Trần Khạ, Phạm Dưỡng – Thu Sương... Nhưng ngòi bút Nguyễn Trọng Tân tập trung sâu nhất vào cuộc tình của Tạ Văn Độ với Bạch Dạ Hoa và mối tình kỳ lạ ngang trái giữa Đặng Nguyên Trực với Hoàng My.

Mối duyên tình của Tạ Văn Độ và Bạch Dạ Hoa như một thiên tình sử tuyệt đẹp, hào sảng mang đậm nét chinh phu thời chiến trận. Hai người yêu nhau ngay năm đầu nhập học. Họ yêu nhau như thể hai người sinh ra đã thuộc về nhau. Chiến tranh ác liệt, Độ lên đường ra trận, hết chiến tranh trở về trường thì Bạch Dạ Hoa đã trở thành cô giáo của anh. 

Bị choáng ít ngày rồi bản lĩnh của người lính chiến đã khiến Độ nhanh chóng chấp nhận thực tại. Nhưng cái bụng mang thai nhùm nhùm của Bạch Dạ Hoa với người chồng mới cưới thì không giấu đi đâu được. Nó cứ như sự đùa cợt của số phận, bi kịch đau khổ từ đó mà ra. 

Độ viết đơn xin tái ngũ lên biên giới phía Bắc chiến đấu. Cuộc chiến tan, Độ trở về thủ đô làm phóng viên báo. Nhưng anh không sao yêu được người con gái thứ hai. Cái bóng Bạch Dạ Hoa vẫn không rời khỏi cuộc đời anh. Anh “mồ côi” vợ cho đến già…

Tình duyên giữa Đặng Nguyên Trực – Thy Sen và Đặng Nguyên Trực - Hoàng My mới là hai cuộc tình xuyên suốt tác phẩm. Nguyên Trực với Thy Sen là cuộc tình trong trẻo và thánh thiện cho đến khi Thy Sen gặp tai họa về với cát bụi. Nguyên Trực - Hoàng My có thể coi là một cuộc tình bất diệt. Hoàng My xứng đáng là một vị thánh trong tình yêu. 

Bao năm tháng chiến tranh và sự lam lũ tưởng như đã làm cho Đặng Nguyên Trực cằn cỗi đi, nhờ tình yêu của Hoàng My mà tâm hồn Trực hồi sinh, thăng hoa. Hai con người được tận hưởng tất cả những cung bậc của tình yêu, nhưng cũng có rất nhiều rào cản thuộc về ý thức hệ, về tâm lý con người thời hậu chiến khiến họ không về được với nhau dưới một mái nhà hạnh phúc.

Một cốt truyện như thế, người viết non tay rất dễ vẽ ra những mô tuýp nhân vật rồi áp vào tác phẩm. Còn Nguyễn Trọng Tân, bằng vốn sống dồi dào cùng với cái nhìn của một nhà tiểu thuyết có nghề, nhân vật của anh sinh động, tươi ròng từ cuộc sống bước vào trang văn, cột chặt niềm xác tín của bạn đọc vào tác phẩm. 

Nếu như cần một lời góp bàn thì tôi rất muốn tiểu thuyết dừng lại ở chỗ Hoàng My chia tay Nguyên Trực, bước sang trang mới của cuộc đời, như thế ám ảnh hơn. 

Tôi đã nói điều này với tác giả. Nguyễn Trọng Tân bảo: “Lê Hoài Nam góp ý rất đúng và thật tinh tế. Nhưng mình đành hy sinh sự ám ảnh ấy để phản ánh đúng như mối duyên tình của hai người bạn mình Đặng Nguyên Trực và Hoàng My. Cho đến tận hôm nay, họ vẫn sóng đôi trong cuộc đời nhau. Trao nhau vị ngọt hạnh phúc và chịu đựng nỗi đau ngang trái. Mối tình của họ: “Như một khế ước duyên phận được định đoạt đầy bí ẩn từ đâu đó trên cao xanh kia. Kiếp này họ phải trả nợ cho nhau”. Cuộc đời thực nhiều khi thô ráp, tẻ nhạt nhưng mình muốn vậy như một lời tri ân với những người con gái như Hoàng My. Nỗi khổ đau trong trái tim yêu hết mình của nàng đã làm cho cuộc sống này đẹp hơn, nhân ái hơn”.

Hà Nội, mùa đông 2020

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.