Nhà văn Nguyên Hồng qua hồi ức của người cháu văn nhân

Tôi gọi nhà văn Đỗ Nhật Minh là: “Ngọn đèn không tắt sáng”, bởi ở cái tuổi xưa nay hiếm như ông nhiều người đã ngừng viết và vui thú điền viên cùng con cháu. Nhưng với ông, viết cũng là một cách rèn luyện tư duy, mở rộng tư duy và cải thiện được sự minh mẫn của trí tuệ thông qua ý tưởng và sự sáng tạo.

Không nhớ tôi đến thăm nhà riêng của ông vào năm nào? Chỉ nhớ khi ấy tôi gặp nhà thơ Nguyễn Thanh Kim ở Hội VHNT tỉnh Bắc Giang và nhà thơ Nguyễn Thanh Kim bảo: Mày chở tao đến thăm ông bạn già Đỗ Nhật Minh. Thế là tôi quen ông, lâu dần thành thân thiết

Căn phòng rộng chừng gần ba chục mét vuông chủ yếu chứa toàn sách, giường ngủ cũng là nơi Đỗ Nhật Minh tiếp bạn văn chương đàm đạo trà, thuốc. Cạnh đó là một cái bàn viết sơ sài và chục trang bản thảo viết tay. Tôi mạo muội hỏi ông: Sao bác không viết bằng máy tính cho nhanh? Ông bảo, tao cập nhật công nghệ thông tin kém lắm, với lại viết tay cho mình nhiều cảm xúc hơn gõ máy. Bản thảo tao gom lại rồi thuê người đánh vi tính ngay đầu ngõ. Vài lần tôi gặp ông thong thả đạp xe đến tòa soạn báo, chợt nghĩ, ông đích thị là “người muôn năm cũ” thật đáng quý còn sót lại giữa thời đại bùng nổ thông tin. Ông đích thị là một nhà văn, một ngọn đèn cháy đến hao dầu, cạn bấc, cháy đến hơi thở cuối cùng của nghiệp cầm bút viết văn.

nv-ð--nh-t-minh-d-c-nh-t-ký.jpg -0
Nhà văn Đỗ Nhật Minh đọc nhật ký của nhà văn Nguyên Hồng.

Nhiều lần đến nhà ông chơi, được ông mời lên đàm đạo văn chương và nghe ông kể chuyện. Tôi mạo muội hỏi ông, nghe nói ông là cháu của nhà văn Nguyên Hồng? Ông bảo, về phía họ hàng, nhà văn Nguyên Hồng là chú tôi, bà nội tôi là chị của nhà văn Nguyên Hồng. Nhà văn Nguyên Hồng gọi bố tôi là anh, bố tôi sinh năm 1911 còn nhà văn Nguyên Hồng thì sinh năm 1918. Gia đình tôi gốc gác ở Xuân Trường - Nam Định, nhưng vì chiến tranh, đói kém, quãng năm 1935, nhà văn Nguyên Hồng cùng mẹ ra Hải Phòng dạy học kiếm sống còn bố tôi đi bộ đội.

Năm 1949, mẹ tôi đành đưa các con về ở mấy tháng tại ấp Cầu Đen, nơi tản cư của nhà văn Nguyên Hồng từ năm 1947. Hòa bình lập lại năm 1954, gia đình tôi về thị xã Bắc Ninh. Nhiều lần từ Hà Nội về ấp Cầu Đen, Nguyên Hồng hay về nhà tôi để nghỉ. Ngày còn nhỏ, tôi là người nhút nhát, chẳng bao giờ dám khoe sự viết lách của mình với ông, mãi đến năm 1971, tôi đi dự hội nghị các cây bút trẻ toàn quốc tại Hà Nội thì gặp ông tại hành lang Hội Nhà văn. Ông ngạc nhiên hỏi: Cháu cũng họp ở đây à? Rồi ông bảo, khổ, viết lách làm gì. Viết văn khổ lắm cháu ạ. Đến bây giờ, ngẫm lại lời ông nói tôi mới thật thấm thía.

Nhà văn Đỗ Nhật Minh chia sẻ với tôi: dạo này sức khỏe giảm sút sau lần đi viện về, người già thường hay hồi tưởng. Tôi nhớ, ngày xưa bố tôi và nhà văn Nguyên Hồng không hợp nhau. Bố tôi là người chải chuốt, ngăn nắp, cẩn thận. Chú Nguyên Hồng trái lại ăn mặc tuềnh toàng, thích sự giản dị, tự nhiên. Nhà tôi ngày ấy nghèo lắm, mẹ tôi hay than thở về nhà cửa chật chội, dột nát. Chú Nguyên Hồng lại bảo, được thế này là tốt lắm rồi chị ạ.

Chú quý mẹ tôi vì mẹ lam lũ, nhọc nhằn chịu khó. Chú cũng dặn dò tôi, cái nghề văn chương nó nghiệt ngã lắm, nghề khác không tài cố gắng thì vẫn làm được chứ văn chương không có tài, có năng khiếu, không chịu đọc thì khó lắm, suốt đời chỉ hão huyền, làm khổ vợ con. Chú bảo tôi, nếu cháu muốn viết thì cứ viết từ gan ruột mình, từ con tim, khối óc của mình, viết những gì gần gũi, đời thường nhất với cháu, bao lời ông nói tôi vẫn nhớ đến bây giờ.

Thuở còn đi học, tôi học trường cấp II, III Hàn Thuyên - Bắc Ninh. Học cùng lớp với tôi là Chu Bá Bình (nhà văn Đỗ Chu). Hồi trẻ, Đỗ Chu đã rất nổi tiếng với nhiều truyện ngắn đặc sắc được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ra trường tôi đi học Cao đẳng sư phạm Nam Định, làm ông giáo dạy học ở tỉnh Hà Tây. Hết Đường Lâm - Sơn Tây sang huyện Phú Xuyên, rồi tôi chuyển về dạy ở nhiều nơi thuộc huyện Yên Dũng (Bắc Giang).

Truyện ngắn đầu tiên của tôi được đăng báo trung ương là“Tiếng hát ở một làng quan họ” trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1978. Sau đó là các truyện khác như “Không đề”; “Thợ lợp nhà” trên Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Truyện vừa đầu tay là “Câu chuyện về một đội kịch” xuất bản năm 1971, NXB Kim Đồng. Nhờ cuốn sách này mà tôi được đi dự hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần II ở Hà Nội đấy. Lần đó Hà Bắc có tôi, nhà thơ Trần Ninh Hồ; Trần Anh Trang và Nguyễn Phan Hách.

cu-n-nh-t-ký-c-a-nhà-van-ng.jpg -0
Bìa cuốn “nhật ký Nguyên Hồng”.

Ông lục tìm cuốn nhật ký Nguyên Hồng đưa cho tôi rồi chậm rãi kể: thuở thiếu thời nhà văn Nguyên Hồng cũng lam lũ, khổ cực lắm. Cuộc sống tha phương với bao đắng cay, tủi nhục đã khiến Nguyên Hồng gắn bó với những con người chân đất, những con người dưới đáy xã hội. Suốt cuộc đời cầm bút của mình, ông hầu như chỉ viết về những người lao động.

Còn nhớ năm 1958, ông đưa cả gia đình từ Thủ đô trở về ấp Cầu Đen xã Quang Tiến chứ không về thị xã, ông lấy nơi đó làm quê hương thứ hai của mình. Ông bấm đốt ngón tay và bảo, nhà văn Nguyên Hồng có bảy người con, ba anh con trai là Hà, Giang, Sơn và bốn cô con gái là Thư, Nhã, Thế, Diệu. Kể cho tôi nghe xong, nhà văn Đỗ Nhật Minh ngồi lặng lẽ hồi ức theo làn khói thuốc, đôi mắt mờ đục sau cặp kính cận dày cộp đầy vết thời gian. Tôi biết, ông đang rất xúc động về người chú kính yêu của mình.

Tôi lần giở cuốn “Nhật kí Nguyên Hồng” do con gái nhà văn Nguyễn Thị Thanh Thư & Nguyễn Thị Nhã Nam thực hiện việc biên soạn và viết lời tựa sách, rất xúc động “…viết nhật ký là một phần cuộc sống của cha tôi. Ông viết hầu như là hàng ngày. Hay đúng hơn là hầu như mỗi sự kiện trong đời đều được ông ghi lại. Về gia đình, về các con, về người vợ thông minh nhưng gày yếu, về người mẹ hiền từ, về bạn bè văn chương, về công việc viết lách cũng như công tác đoàn thể, về những sự kiện lớn trong nước và quốc tế… qua những trang nhật ký của ông, hiển hiện cả một thời đại, sống động và chân thực. Đặc biệt, là đời sống văn nghệ suốt nửa đầu thế kỷ XX. Chúng ta hiểu được phần nào biết được các nhà văn thế hệ ấy, họ đã sống và viết như thế nào? Và cuộc sống của cả gia đình chúng tôi. Cho tới khi ông trút hơi thở cuối cùng…”.

Cuốn nhật ký được nhà văn Nguyên Hồng viết từ ngày 25/10/1943 cho đến lá thư cuối cùng còn lưu giữ lại ngày 2/5/1982. Con gái nhà văn viết “Đây là bức thư cha tôi viết cho bà cô ruột lúc đó đang sinh sống ở Đồng Nai, có lẽ chỉ khoảng một tiếng trước khi ông mất”. Cuốn nhật ký có rất nhiều trang viết xúc động như ngày 31/3/1948 “Xuân Diệu đến chơi. Tôi phải bỏ dở viết. Các con của bạn tôi và của tôi khóc quấy…. khổ vì viết quá! sáng tác! thật là rứt thịt mình ra, cắm đầu viết! viết đau quá! viết để mà trốn sự thực ư? Không!...cất cao đầu lên, cười đi, nhìn sâu hơn nữa vào chung quanh, rồi viết”. hoặc ngày 18/2/1962 ông viết “…buổi trưa ông Mấm gọi tôi lấy thịt. Các con được múp máp tí mỡ. Cái Nhã vớt từng miếng tóp. Thế cắt tóc như con trai, tôi đem “Les Amé mortes” Những linh hồn chết của đại văn hào Nga ra sau bếp đọc và đón nhà tôi. Thế hỏi U âu? U âu? Tôi bảo: U kia kìa! U kia kìa! nó bảo “không vải”… Sơn đi chăn trâu về bữa cơm chỉ có tí canh bầu lõng võng…”. Cuốn nhật ký nhiều đoạn đọc nhòa trong nước mắt. Cuối cuốn sách, nhà văn Pháp Pierre Abraham chủ nhiệm Tạp chí Châu Âu viết: “…như từ bờ bãi sông Hồng đỏ rực, gió cuốn đến đây nhà văn lớn này là người của đất, thật là người của đất”. 

Nhà văn Đỗ Nhật Minh, cháu gọi nhà văn Nguyên Hồng bằng chú họ sinh năm 1944, quê quán Nam Định. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội VHNT tỉnh Bắc Giang. Ông đã có 17 đầu sách, 4 tiểu thuyết và 13 tập truyện ngắn. Trong đó phải kể đến những tác phẩm chính như tiểu thuyết “Giã từ đêm quan họ”; “Bóng đêm và con chó”; “Thờ ơ và tội ác” và các tập truyện ngắn tiêu biểu như “Cái lồng sắt”; “Quán trần gian”…một số cuốn sách của ông đã được các NXB tái bản.

Các tác phẩm chính của ông chủ yếu viết về số phận con người. Đưa con người trở về với cuộc sống đời thường, hoàn cảnh sống cụ thể, giúp họ nhận ra những giá trị chuẩn mực của gia đình, giá trị thực của đời sống hiện tại. Con người ông xây dựng, đề cập, đa phần hướng đến sự trung thực, giàu lòng vị tha. Nhân vật trong các tiểu thuyết ám ảnh, khơi gợi người đọc và cao cả hơn nữa, dù chịu nhiều thiệt thòi, đắng cay, mất mát, số phận, nhưng tất cả đều thể hiện lòng vị tha, đức hy sinh thầm lặng trong bản năng vốn có của họ. Sức sống và niềm tin của mỗi con người trong các truyện ngắn sau này đều tinh khôi, thánh thiện, biết vươn lên, vượt qua trở ngại và sống đúng nghĩa: Con người.

Đinh Tiến Hải

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...