Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Bền bỉ tuổi bách niên

Trong ngôi nhà ở khu đô thị Trung Yên (Hà Nội) có rất nhiều sách báo. Đó là khối tài sản quý mà nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc đã tích lũy trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong số này, có rất nhiều đầu sách do ông viết, dịch, biên soạn...

Nếu có cuộc bầu chọn một nhà văn hóa cao tuổi nhất vẫn miệt mài làm việc, thì nhà văn hóa Hữu Ngọc luôn có mặt ở trong top đầu. Bước vào tuổi 102, ông vừa đón nhận bộ sách “Cảo thơm lần giở” dày gần 1.000 trang. Điều đó cho thấy sức bền bỉ trong lao động của ông. Ở tuổi bách niên này, dù mắt đã không còn nhìn rõ chữ, đôi tai phải dùng máy trợ thính... nhưng hằng ngày nhà văn hóa Hữu Ngọc vẫn miệt mài làm việc.

1. Trong ngôi nhà ở khu đô thị Trung Yên (Hà Nội) có rất nhiều sách báo. Đó là khối tài sản quý mà nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc đã tích lũy trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong số này, có rất nhiều đầu sách do ông viết, dịch, biên soạn...

Từ khi còn trẻ, Hữu Ngọc đã sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ, như chữ Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp. Sau này, ông còn tranh thủ học thêm tiếng Đức và trở thành dịch giả “Truyện cổ Grimm” từ tiếng Đức sang tiếng Việt từ những năm 1960. Ngoài ra, những cuốn sách như “Phác thảo chân dung văn hóa Pháp” (1991), “Sổ tay người dịch tiếng Anh” (1988), “Sổ tay người dịch tiếng Pháp” (1990), “Hồ sơ văn hóa Mỹ” (1995)… đã nối nhịp cầu giúp độc giả khám phá những nền văn hóa lớn của thế giới.

Nhà văn hóa Hữu Ngọc.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc.

Đặc biệt, trong những năm làm Giám đốc NXB Ngoại văn, Hữu Ngọc không chỉ “nhập khẩu” văn hóa thế giới về Việt Nam mà còn “xuất khẩu” văn hóa. Từ rất sớm, năm 1955, ông đã viết “Le Vietnam en marche” (Việt Nam tiến bước) bằng tiếng Pháp. Ba năm sau, ông cùng Alice Kehn xuất bản bằng tiếng Pháp cuốn “Chansons populairer Vietnamiennes” (Ca dao Việt Nam). Đặc biệt, nhà văn hóa Hữu Ngọc cũng là người giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài khá sớm. Ông kết hợp cùng bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ biên bộ “Anthologie de la littérature Vietnamienne” (Tuyển tập văn học Việt Nam) bản tiếng Pháp gồm 4 tập, dày 2.000 trang (1979) và bản tiếng Anh dày 1.000 trang (1981).

Bước sang đầu thế kỷ 21, ông lại chủ biên cuốn “Mille ans littérature Vietnamienne” (1.000 năm văn học Việt Nam) in tại Paris, 2002. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu “Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam” đến nay vẫn được coi là cẩm nang quý. Đây là thành quả của cách làm việc chăm chỉ, như con ong cần mẫn. Suốt hơn chục năm trời Hữu Ngọc giữ mục “Mạn đàm truyền thống” cho tờ Le Courrier Vietnam (tiếng Pháp) và Vietnam News (tiếng Anh). Những bài viết đó đã được tập hợp thành một cuốn sách quý “Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam” bằng hai thứ tiếng Anh và Pháp.

Còn tác phẩm "Lãng du trong văn hóa Việt Nam" dày hơn 1.200 trang của nhà văn hóa Hữu Ngọc đã xuất bản bằng tiếng Việt, Pháp, Anh thực sự là dấu son trong sự nghiệp quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Cuốn sách là chia sẻ của ông về vốn sống, về văn hóa Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dưới một góc nhìn riêng và bằng thứ ngôn ngữ giản dị, nhưng cực kỳ lôi cuốn.

Mới rồi, ở tuổi bách niên, bằng việc ra mắt bộ sách “Cảo thơm lần giở” ông cho thấy sức làm việc bền bỉ, trách nhiệm mà ít trí thức nào sánh được. “Cảo thơm lần giở” tức là mở lại những pho sách quý làm tiêu đề, nhà văn hóa Hữu Ngọc viết bộ sách này không chỉ để “mua vui”.

Ông đã cho thấy sự chắt lọc những suy ngẫm của mình về “cuộc đời và xã hội qua lăng kính tư duy của những trí tuệ uyên thâm trên thế giới”. Bằng việc điểm qua cuộc đời và tư duy của hơn 180 danh nhân Đông Tây kim cổ, trải rộng trên nhiều lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, triết học, khoa học, văn học, nghệ thuật, đạo đức học, xã hội học, sử học, tâm lí học, chính trị học... đại diện cho các nền văn hóa của nhân loại, nhà văn hóa Hữu Ngọc đã có một “cuộc hành hương tìm về quá khứ”.

Trong chuyến “đi tìm thời gian đã mất” ấy, trí óc ông đã có dịp “hồi tưởng những chuyện riêng tư và cả những sự kiện quốc gia và quốc tế đương thời…”. Qua lăng kính của nhà văn hóa Hữu Ngọc, mỗi danh nhân được khắc họa một cách súc tích về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, học thuyết. Với mỗi danh nhân, tác giả cũng cẩn trọng lựa chọn những câu danh ngôn nổi tiếng, tiêu biểu thể hiện tư tưởng, học thuyết của vị danh nhân ấy.

2. Nhà văn hóa Hữu Ngọc sinh ngày 22-12-1918 quê gốc ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nhưng ông sinh ra ở phố Hàng Gai (Hoàn Kiếm, Hà Nội). Năm 1936, Hữu Ngọc tốt nghiệp Diplom trường Bưởi. Khi đó, chàng trai sinh ra ở phố cổ Hà Nội có mơ ước khá kỳ lạ: được làm thầy giáo ở một tỉnh miền núi, được kết duyên với một cô sơn nữ, sống một cuộc đời thật bình dị, ẩn dật.

Nhưng số phận đã lựa chọn ông để làm những công việc “vĩ đại” hơn. Ông chuyển sang học triết, rồi học luật, tuy vậy, ước mơ làm thầy giáo của ông cũng đã thành, bằng việc đi dạy tư. Ông vào Vinh, rồi vào Huế lại ngược ra Nam Định dạy học.

Tại đây, ông được bầu là Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến Nam Định và làm thêm một nghề mới: Viết báo. Tờ báo đó được viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp có tên là “Tia lửa”. Đây cũng là một trong những tờ báo địch vận đầu tiên trong kháng chiến chống Pháp. Chàng trí thức trẻ Hữu Ngọc hồi ấy vừa là chủ nhiệm báo, vừa là phóng viên nhiệt huyết.

Bộ sách “Cảo thơm lần giở” của nhà văn hóa Hữu Ngọc vừa ra mắt bạn đọc.
Bộ sách “Cảo thơm lần giở” của nhà văn hóa Hữu Ngọc vừa ra mắt bạn đọc.

Nhớ lại quãng thời gian này, nhà văn hóa Hữu Ngọc chia sẻ: “Lúc ấy chưa đến 30 tuổi, lại chưa từng làm báo bao giờ, nhưng lòng yêu nước, nhiệt huyết tuổi trẻ đã thôi thúc tôi nhận nhiệm vụ làm chủ bút “Tia lửa”. Ngày tôi đi dạy học, tối về viết bài, chạy đến nhà in. May mắn là báo in hồi ấy cũng rất đẹp”.

Gắn bó và có duyên với báo chí, tên tuổi ông cũng gắn liền với nhiều chuyên mục báo chí trong nửa cuối thế kỷ XX cho tới tận ngày nay. Không chỉ vậy, nhiều người còn nhớ tới nhà nghiên cứu Hữu Ngọc khi ông làm Tổng biên tập của nhiều tờ báo đối ngoại như tờ Tia lửa (tiếng Pháp), Việt Nam tiến bước (Anh - Pháp - Esperanto) và Nghiên cứu Việt Nam (Anh - Pháp). Đây chính là những cánh cửa để văn hóa thế giới đến với bạn đọc trong nước, đồng thời để một lần nữa văn hóa Việt bước ra thế giới.

Song song với những hoạt động ấy, nhà văn hóa Hữu Ngọc còn nổi tiếng qua những buổi nói chuyện với khách nước ngoài. Trong quá trình "xuất khẩu văn hóa", ông muốn làm cho người nước ngoài hiểu Việt Nam có nền văn hóa độc lập. 90% người nước ngoài ngộ nhận rằng, văn hóa Việt Nam giống Trung Quốc. Qua những buổi nói chuyện ấy, Hữu Ngọc đã nhiều lần dẫn chứng những ví dụ sinh động, cụ thể để nói rằng Việt Nam có chịu ảnh hưởng của Trung Quốc nhưng vẫn có rất nhiều bản sắc riêng. Từ lịch sử cái tên Việt Nam là đất nước của người Việt, đến văn hóa sông Hồng biểu trưng là trống đồng Đông Sơn...

Trong sự nghiệp nghiên cứu văn hóa đồ sộ của nhà văn hóa Hữu Ngọc, sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc tới mảng đề tài về Hà Nội. Có thể kể tới những tựa sách như “Hà Nội của tôi”, hay 10 tập  “Hanoi, who are you?” (Hà Nội, bạn là ai?) viết cùng nhà văn Mỹ Lady Borton. Ngoài ra còn phải kể tới cuốn “Phác họa chân dung văn hóa Hà Nội”.

Theo nhà văn hóa Hữu Ngọc, năm 1997, Hội nghị các nước có sử dụng tiếng Pháp lần 7 được tổ chức tại Hà Nội. Đây là hội nghị văn hóa quốc tế lớn đầu tiên diễn ra tại Việt Nam. Chính quyền bang Québec (Canada) muốn có một cuốn sách ảnh về Hà Nội viết bằng tiếng Pháp để làm món quà văn hóa tặng các nguyên thủ quốc gia tham dự hội nghị. Khi đó ông vinh dự được Bộ Ngoại giao lựa chọn để thực hiện công việc quan trọng này. Và trong vòng ba tháng, ông đã hoàn thành cuốn sách hơn 200 trang gửi gắm nhiều tâm huyết.

Với những đóng góp bền bỉ, nhà văn hóa Hữu Ngọc đã được trao tặng nhiều huân chương, giải thưởng danh giá: 2 Huân chương Độc lập; Huân chương Chiến công; Huân chương Cành cọ Hàn lâm (Pháp); Huân chương Bắc Đẩu (Thụy Điển); Giải Mot dor (Pháp); Giải Vàng Sách Việt Nam 2006; Giải Đồng Sách Việt Nam 2015; Giải thưởng Quốc gia Sách Việt Nam 2017; Giải GADIF 2008 của Nhóm các Đại sứ quán, Phái đoàn và các Tổ chức Pháp ngữ tại Việt Nam; Giải Nhất toàn quốc 2015 về Thông tin Đối ngoại; Giải thưởng Lớn Bùi Xuân Phái về Tình yêu Hà Nội 2017. Năm 2007, vượt qua nhiều tên tuổi khác, nhà văn hóa Hữu Ngọc đã được nhận Giải thưởng Lớn "Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội".

Năm 2008, tại lễ trao giải GADIF (Giải của các đại sứ thuộc tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp) cho ông Hữu Ngọc, Đại sứ Hy Lạp đã nhấn mạnh: “Ông là một trong những học giả được biết đến là người xây cầu nối văn hóa Việt Nam và thế giới”.

Hoàng Thu Phố

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.