Nhà văn Hồ Phương: Những trang văn thấm đẫm khói lửa trận mạc

Thiếu tướng, nhà văn Hồ Phương, sinh năm 1930, quê Hà Đông, Hà Nội qua đời tối 2/1/2024, hưởng thọ 94 tuổi. Ông đã tham gia nhiều chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Ông để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký và ký sự. Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật  năm 2012.

Trước khi cầm bút, Hồ Phương là người lính cầm súng, tiểu sử văn chương của ông là những trang văn thấm đẫm khói lửa trận mạc và bừng sáng những gương mặt anh hùng trong cuộc chiến tranh dựng nước, giữ nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Nhà văn Hồ Phương tên thật là Nguyễn Thế Xương, sinh ngày 15/4/1930 tại Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội. Tháng 12/1946, Hồ Phương gia nhập lực lượng tự vệ Thành Hoàng Diệu, gia nhập quân đội, trở thành "Chiến sĩ Quyết tử" của Thủ đô 60 ngày đêm khói lửa. Sau đó ông trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch lớn trong đội hình Đại đoàn 308. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, ông trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch lịch sử, trong đó có Chiến dịch Biên giới năm 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trong đội hình của Đại đoàn quân chủ lực đầu tiên của Quân đội, Đại đoàn 308, sau này là Sư đoàn Quân Tiên phong Anh hùng.   

thiếu tướng nhà văn hồ phương.jpg -0
Thiếu tướng nhà văn Hồ Phương.

Trưởng thành từ quân đội, Hồ Phương làm phóng viên, cán bộ phụ trách Báo Quân Tiên phong của Đại đoàn 308, rồi làm Chính trị viên Đại đội. Năm 1954, ông được cấp trên điều về Tổng cục Chính trị viết văn và tham gia thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông làm phóng viên mặt trận và đi B, năm 1984 làm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, quân hàm Thiếu tướng. Sau khi nghỉ hưu, ông làm Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Ông là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III.

Một gia tài văn chương đồ sộ

Trong sự nghiệp văn chương của mình, nhà văn Hồ Phương đã sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng như: "Thư nhà" (truyện ngắn, 1948); "Vệ Út" (1955); "Những tiếng súng đầu tiên" (tiểu thuyết, 1955); "Vài mẩu chuyện về Điện Biên Phủ" (1956); "Lá cờ chuẩn đỏ thắm" (1957); "Cỏ non"  (1960); "Trên biển lớn" (1964); "Nhằm thẳng quân thù mà bắn" (1965); "Chúng tôi ở Cồn Cỏ" (1966); "Kan Lịch" (tiểu thuyết, 1967); "Số phận lữ dù 3 Sài Gòn" (ký, 1971); "Khi có một mặt trời" (1972); "Những tầm cao" (tiểu thuyết 1974); "Biển gọi" (tiểu thuyết, 1978); "Phía Tây mặt trận" (1978); "Cầm Sa" (1980); "Bình minh" (tiểu thuyết, 1981); "Mặt trời ấm sáng" (tiểu thuyết, 1985); "Đại đoàn đồng bằng" (1989);  "Ông trùm" (1992); "Cánh đồng phía Tây" (tiểu thuyết, 1994); "Yêu tinh" (tiểu thuyết, 2001), "Ngàn dâu" (tiểu thuyết, 2002); "Những cánh rừng lá đỏ "(tiểu thuyết, 2005); "Cha và con" (tiểu thuyết, 2007)... Trong đó, truyện ngắn "Cỏ non" của ông đã được trích in vào trong sách giáo khoa, giảng dạy trong nhà trường suốt nhiều năm liền.

Nhà văn Hồ Phương từng nhận nhiều giải thưởng văn học như: Giải thưởng Báo Văn nghệ với truyện ngắn "Cỏ non" (1958), Giải thưởng văn học Thủ đô 1983 cho tác phẩm "Những tầm cao", Giải thưởng Bộ Quốc phòng (1994) với "Cánh đồng phía Tây", Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - Bộ Công an với tiểu thuyết "Yêu tinh" (2001), Giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2003) với tiểu thuyết "Ngàn dâu".

Suy nghĩ về nghề văn, nhà văn Hồ Phương trải lòng: "Khuynh hướng bao trùm các sáng tác của tôi là luôn hướng về cái thiện, cái đẹp trong cuộc đời và những con người chân chính. Chiến tranh đã qua rồi. Đã có thể rũ bỏ những hạn chế và vượt qua những công thức, cùng mọi ấu trĩ xưa, để đổi mới ngòi bút - Nhưng đổi mới không có nghĩa là chối bỏ hết mọi thành tựu ta đã có, để chạy theo những gì là lai căng, lập dị, huênh hoang, ít nhất là quá xa lạ".

Nhà văn Hồ Phương trong ký ức bạn bè

Nhà văn Thiếu tướng Hồ Phương tuy đã đi xa nhưng những kỷ niệm tốt đẹp về văn chương của ông, nhân cách của ông vẫn còn sống mãi trong ký ức bạn bè, đồng nghiệp. Nhà văn Lê Phương Liên nhắc về những kỷ niệm khi bà biên tập cuốn tiểu thuyết "Cha và con" của nhà văn Hồ Phương:

"Ông đã trải qua chinh chiến, làm công việc chính trị văn nghệ quân đội gần hết cả cuộc đời. Khi ông đã ở tuổi thất thập có một duyên may khiến tôi làm việc cùng ông. Tôi đã nhận ra rằng dẫu có trải qua bao nhiêu sương gió, một chút cốt cách thư sinh Hà Nội vẫn ở trong ông - "Anh bộ đội Cụ Hồ". Đó là vào thời điểm những năm 2005-2007, tôi tình cờ gặp nhà văn Hồ Phương. Ông tâm sự với tôi rằng: ông rất kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh nên đã lấy họ HỒ làm bút danh cho mình. Tác giả "Cỏ non" luôn ấp ủ mong muốn viết một tác phẩm về Bác Hồ.

Khi ấy, biết tôi là người đã tham gia biên tập cuốn "Búp sen xanh" (của nhà văn Sơn Tùng), nhà văn Hồ Phương vẫn đưa bản thảo tiểu thuyết "Cha và con" cho tôi và nói: "Tôi không đến nỗi quá ngần ngại là đã có nhiều người viết về Bác. Bởi cứ nghĩ: trong văn chương, mỗi người đều có những suy nghĩ riêng và những rung động cùng những sáng tạo nghệ thuật riêng". Ông nhấn mạnh rằng: "Tôi viết theo phong cách và phương pháp tiểu thuyết, đây không phải là ký sự tiểu sử nhân vật".

Trân trọng tâm huyết của nhà văn Hồ Phương, tôi đã nhận bản thảo làm biên tập cuốn sách này. Quả thực tôi đã thấy có sự khác biệt giữa "Cha và con" (của Hồ Phương) và "Búp sen xanh" (của Sơn Tùng). Nhà văn Hồ Phương không kể lại cuộc đời của Bác theo mạch thời gian, theo dòng sự kiện từ nhỏ cho đến khi ra đi tìm đường cứu nước. Cậu bé Nguyễn Sinh Côn bắt đầu xuất hiện trong tác phẩm khi đã ở tuổi thiếu niên. Trong "Cha và con", giai đoạn lịch sử Nguyễn Sinh Côn đến Bình Định đã được nhà văn Hồ Phương trình bày chi tiết sâu sắc hơn. Nỗi băn khoăn của chàng thanh niên đang khát khao một cuộc đổi đời cho dân tộc; tâm tư của những chí sĩ yêu nước bất phùng thời đầu thế kỉ XX như cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc để lại ấn tượng mạnh trong tác phẩm "Cha và con". Theo cảm nhận của nhà văn Hồ Phương "Người Cha - Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ảnh hưởng rất nhiều, nếu không nói là nhiều nhất đến sự hình thành và phát triển tính cách của cậu con trai Nguyễn Sinh Côn - sau này là Nguyễn Tất Thành".

Ngày 1/9/2007, cuốn tiểu thuyết về Bác Hồ của nhà văn Hồ Phương ra mắt độc giả tại Làng Sen quê Bác. Đó là một kỷ niệm đẹp của nhà văn Hồ Phương với Nhà xuất bản Kim Đồng và với bản thân tôi trong những năm đầu thế kỷ XXI. Đó cũng có thể coi là một cuốn sách cuối cùng của nhà văn Hồ Phương để lại. Đã mười mấy năm qua, nhà văn Hồ Phương không còn xuất hiện trong các hoạt động văn học nữa. Nay, nghe tin ông đã thanh thản ra đi, xin thắp nén tâm hương đưa tiễn ông - một nhà văn chiến sĩ đã sống trọn vẹn một cuộc đời "Anh bộ đội Cụ Hồ".

Nhà thơ, nhà biên kịch điện ảnh Nguyễn Thị Hồng Ngát khi nghe tin nhà văn Hồ Phương ra đi ở tuổi 93 - tuổi khá thượng thọ, bà tâm sự: "Tôi không buồn nhiều mà chỉ nhớ ông. Một nhà văn Quân đội hiếm hoi mang hàm Thiếu tướng. Tính ông hiền hậu, cởi mở, chuyện trò nhỏ nhẹ. Tôi biết và hay được trò chuyện cùng ông nhiều là khi được mời đi theo ông để đi tìm tài liệu cũng như đi về các chiến trường xưa để cả nhóm tập trung xây dựng kịch bản "Giải phóng Sài Gòn".

Thật ra, không chỉ có kịch bản này mà ước vọng của Cục Điện ảnh hồi bấy giờ - Cục trưởng NSND Bùi Đình Hạc - là xây dựng 4 tập phim lớn về chiến dịch Hồ Chí Minh - tập Giải phóng Sài Gòn chỉ là tập cuối cùng. Đề cương chi tiết cả 4 tập do Thiếu tướng - nhà văn Hồ Phương khởi thảo. Do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, cuối cùng mỗi tập Giải phóng Sài Gòn là được dựng thành phim.

Tôi nhớ mãi chuyến đi ô tô xuyên Việt cùng ông (và các nhà văn Hữu Mai, Chu Lai, biên kịch Thiên Phúc và tôi - duy nhất là nữ tham gia nhóm trong chuyến đi này). Chuyến đi khoảng nửa tháng gì đó nhưng đủ để tôi quí sự hiền hậu, tính tình mát mẻ và hay tủm tỉm cười độ lượng của Hồ Phương - một nhà văn đầy ắp vốn sống và tư liệu về 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ. Trong 4 tập đề cương ông khởi thảo đã đầy đủ lắm rồi, còn chuyến đi về các chiến trường xưa cốt để cho chúng tôi - hai nhà biên kịch ngoài quân đội - biết và hiểu thôi. Còn 3 nhà văn quân đội lừng lững toàn tướng tá thì chỉ cốt hâm nóng lại cảm xúc.

Mỗi khi đến "thủ phủ "của một doanh trại quân đội nào đó thuộc cấp Quân khu, bọn tôi lại "bắt" nhà văn Hồ Phương thay thường phục để mặc quân phục và gắn lon Thiếu tướng lên cho oách. Đi qua cổng doanh trại không phải trình bày. Các Thủ trưởng tiếp đoàn vì thế mà cũng nể nang hơn. Mỗi lần như vậy nhà văn Hồ Phương chỉ mủm mỉm cười, lắc đầu vì biết bọn tôi láu lỉnh nhưng ông cũng vui lòng cho bọn tôi "bắt ép". Mải lo công việc cho cuộc sống bộn bề lâu lắm rồi tôi cũng không đến thăm ông được - nay biết ông đã về với thế giới người hiền. Cầu mong ông an lành viễn du miền cực lạc". 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.