Nhà thơ Xuân Thiêm: Khi cuộc sống ngân lên giai điệu

Nhà thơ Xuân Thiêm là thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông vừa vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật với trường ca “Xuôi dòng Nậm Na” và truyện thơ “Người trai Bình Định”. Ông luôn giữ phong thái giản dị, hào sảng nhưng cũng rất đỗi dí dỏm. Ông bảo, cả cuộc đời mình dành cho cách mạng và nhận về nhiều vinh quang, trong đó là sự hiển đạt của 5 người con và sau này là cuộc sống an vui.

Những kỷ niệm đẹp

Nhà thơ Xuân Thiêm hiện sống ở căn hộ nhỏ cuối đường Trương Định (Hà Nội) cùng với những kỷ niệm. Những kỷ niệm mà ông trân quý là tình cảm bè bạn, văn nhân và đặc biệt, ông biết ơn người vợ của mình - bà Nguyễn Thị Thanh Phụng, một người giỏi quán xuyến gia đình, tiết kiệm, thay chồng nuôi 5 con nên người.

Nói về gia đình, nhà thơ Xuân Thiêm bảo rằng, đó là điều quá khó, nhưng rồi ông cũng tự bật lên nỗi niềm: “Có lúc, tôi vẫn tự đùa mình là: Chưa biết yêu thì đã yêu, chưa biết làm chồng thì đã là chồng, chưa biết làm cha thì đã là cha. Tức là tôi và vợ tôi cưới nhau rất sớm, nhưng rồi tôi đi hoạt động cách mạng. Tôi chưa có nhiều kinh nghiệm để quán xuyến gia đình, nuôi con, và phải nói là suốt cuộc đời tôi cứ như một học sinh, tất cả đều nhờ vợ”.

vợ chồng nhà thơ xuân thiêm.jpg -1
Vợ chồng nhà thơ Xuân Thiêm.

Lão nhà thơ cũng chia sẻ, trong tuyển tập thơ văn, ông viết rất nhiều thơ về vợ. Rồi ông tự hào chỉ lên bức tranh chữ, do nhà nghiên cứu văn học Nhị Ca viết cho bà Phụng từ năm 1980: “Qua cháu Thi và các cháu khác, mới thấy hết công phu dạy dỗ các cháu của chị, đủ cả công dung ngôn hạnh, vá may nấu nướng đều giỏi. Chúng ta đều không còn trẻ, ngọt bùi đắng cay đều trải qua. Vốn chìm, vốn nổi quý nhất, hạnh phúc lớn nhất chỉ là con cháu chăm ngoan, khỏe mạnh. Trai gái, dâu, rể của anh chị đều nên người”.

Xuân Thiêm xúc động đọc lại, rồi ông bảo: “Những lời anh Nhị Ca viết, đã khái quát công lao của vợ tôi, cũng là những điều tôi muốn nói với bà Phụng”.

Bà Phụng quê ở làng Bình Hồ (huyện Kim Động, Hưng Yên), còn ông Thiêm quê ở làng Bông, xã Hùng An (huyện Kim Động), từ nhỏ vì hai gia đình đều nuôi giấu cán bộ nên ông bà quen biết nhau. Ông Thiêm kể: Gia đình vợ tôi khi đó đặc biệt lắm, hai chị em Nguyễn Thị Thanh Phụng và em gái là Nguyễn Thị Kim Quy đều xinh đẹp, thường làm mẫu cho họa sĩ Lương Xuân Nhị vẽ. Họa sĩ Lương Xuân Nhị rất chuộng kiểu người như Phụng, một vẻ đẹp hồn nhiên khỏe khoắn khác hẳn típ thiếu nữ Hà thành với đôi mắt mơ màng xa xăm. Tôi và Thanh Phụng yêu nhau, rồi chính ông Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên, từng được gia đình Thanh Phụng nuôi giấu, đã đứng ra làm chủ hôn cho tôi và Thanh Phụng. Ngày đó, cuộc sống khó khăn nhưng lãng mạn lắm. Khi đón dâu, chúng tôi ngồi thuyền ba cây số dọc con sông quê, còn quan khách thì đi bộ trên bờ, rất tình cảm, rất đẹp.

Khi họa sĩ Lương Xuân Nhị được giao chức vụ Tổng thư ký Hội Văn nghệ khu 3, mỗi lần gặp nhau, họa sĩ cùng nhà thơ lại nhắc đến Hưng Yên với niềm yêu thương da diết và ôn lại những kỷ niệm về Hội Văn hóa kháng chiến thời trước. Có một kỷ niệm mà đến giờ ông vẫn không quên về người vợ cả đời tận tụy của mình. Trong trận đánh phục kích địch ở Cổ Lễ (Nam Định) mở đường cho đại quân vượt sông Hồng, bộ đội ta bắt được nhiều tù binh, trong đó có một sĩ quan Pháp. Xuân Thiêm là phái viên chính trị đi theo trung đoàn 48 đánh trận này. Vừa im tiếng súng, ông được lệnh về ngay hầm Tư lệnh để hỏi cung tù binh thực dân Pháp. Trước mặt ông là một trung úy mặt non choẹt vẻ sợ sệt. Hỏi gì hắn trả lời ngay, kể cả những thông tin cần tìm hiểu để ta dễ bề phán đoán địch tình. Hắn tự khai tên là Besecond. Hắn nhìn ông rồi đưa tay lên ngực, lấy từ túi áo trong ra một tờ giấy gấp nhỏ đưa cho ông, ý muốn tự nói hắn là hàng binh. Xuân Thiêm bất ngờ khi mở ra, nhận ngay đây là bức tranh của Lương Xuân Nhị vẽ theo yêu cầu của ban địch vận.

Ông Thiêm nhớ lại: “Bức tranh truyền đơn khổ nhỏ có dòng chữ kêu gọi hồi hương (rapatriement) và hình một phụ nữ đang như ngóng đợi, như chuyện trò với người thân bị đưa đi đánh trận thuê. Cô gái trong tranh tuy có mái tóc xoăn, đôi mắt xanh của người châu Âu nhưng vẫn gợi cho tôi đến Thanh Phụng, vợ tôi. Tôi cầm tờ truyền đơn về đặt cạnh bức tranh vợ mình, càng khẳng định đó chính là vợ mình. Tôi suy nghĩ mãi về tác dụng của một bức tranh được nhân bản và phát tán tới nơi cái chết và sự sống đan cài nhau, càng thêm quý trọng họa sĩ bậc thầy Lương Xuân Nhị”.

“Ông từ giữ đền”

Xuân Thiêm sinh năm 1927 tại Hưng Yên, tham gia cách mạng từ trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, từng làm Chủ nhiệm Việt Minh huyện. Từ năm 1946 đến 1950, ông làm Chủ nhiệm Báo Bãi Sậy của tỉnh Hưng Yên, là thành viên Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Liên Khu 3. Năm 1951, Xuân Thiêm được điều động lên Văn hóa khu rồi bổ sung làm lính Đại đoàn 320 chuyên hoạt động ở vùng địch tạm chiếm đồng bằng Bắc bộ. Năm 1955, ông về trại sáng tác của Tổng cục Chính trị. Năm 1957, khi Tạp chí Văn nghệ Quân đội ra mắt, ông là thành viên của Ban biên tập đầu tiên.

nhà thơ xuân thiêm và tác giả bài viết.jpg -0
Nhà thơ Xuân Thiêm và tác giả bài viết.

Nhà thơ Bằng Việt, đã viết về ông: “Khi cùng các nhà văn quân đội tham gia Hội nghị thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, trở thành một trong các hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam; rồi được điều động sang Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, để trở thành "ông từ giữ đền" của cả khối văn học nghệ thuật Việt Nam trong suốt 15 năm, cùng với nhà thơ Huy Cận đứng ở vị trí "quân trung luận bàn" cho rất nhiều chủ trương chính sách của cả giới văn nghệ sĩ…”.

Tôi hỏi, trong những năm tháng vừa hoạt động cách mạng, vừa thực tế sáng tác, kỷ niệm nào khiến ông nhớ nhất? Nhà thơ Xuân Thiêm chia sẻ: Vào năm 1965 - 1966, tôi cùng anh em, đồng đội đi thực tế sáng tác ở đảo Bạch Long Vĩ, trong chuyến công tác vô cùng gian nan này, tôi đã sáng tác được 10 bài thơ, 10 lời thơ để nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc, hai kịch bản để nhà văn Hoàng Văn Bổn dựng phim. Những năm đó, đế quốc Mỹ đánh bom vô cùng ác liệt, song tôi đã không thể ngờ nó lại ác liệt hơn sự tưởng tượng. Vậy mà chúng tôi vẫn cùng đồng đội bám trụ, chiến đấu, sáng tác. Đúng là trong hiểm nguy đã tạo cho chúng tôi rất nhiều cảm xúc, chất xúc tác để có thể viết nhanh, ào ạt. Và bài thơ “Cô gái Bạch Long Vĩ” của tôi được đánh giá cao, nhờ thế nhiều người biết đến tôi hơn. Bài thơ cũng được in trong Tuyển thơ chống Mỹ năm 1965-1972. Giọng bài thơ này điềm đạm, thủ thỉ, da diết, đúng với cá tính của tôi. Có nhà thơ nhận xét khi đọc bài thơ này: không nói to mà vẫn đau, không ồn ào mà vẫn có sức lan tỏa thâm trầm. “Cô gái Bạch Long Vĩ” là cách kể chuyện tâm tình bằng thơ đặc trưng kiểu Xuân Thiêm.

Về hai cuốn sách giúp ông dành giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật, cuốn “Xuôi dòng Nậm Na” là trường ca kể lại một đoạn đời của Anh hùng quân đội Phan Tư, chiến sĩ thuộc Trung đội 51 - đơn vị được giao nhiệm vụ phá thác trên sông Nậm Na, mở tuyến đường thủy phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhờ lòng quả cảm và tài trí thông minh, anh đã xung phong làm nhiều nhiệm vụ quan trọng, giúp Trung đội hoàn thành nhiệm vụ.

Còn cuốn truyện thơ “Người trai Bình Định” xuất bản năm 1959, đây là tập sách dẫn Xuân Thiêm vào con đường văn chương chuyên nghiệp. Trước đó, ông đi công tác ở Khu V, được nghe Chính ủy kể chuyện suốt ba ngày về Anh hùng Ngô Mây (ở Bình Định) và Anh hùng Nguyễn Phú Vị (ở Hà Nội). Ông được giao nhiệm vụ viết văn cơ, nhưng đã viết theo thể loại truyện thơ về cả hai, song cuốn “Người trai Bình Định” đã được chọn in.

Cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng, nay ông đã ở tuổi 96, với gần 80 năm tuổi đảng. Có thể giải thưởng đến với ông hơi muộn, nhưng ông vẫn rất vui, vì chút cống hiến của mình vẫn được Đảng và Nhà nước quan tâm. “Và cũng phải khẳng định, giải thưởng này, cùng giải thưởng Hồ Chí Minh mang tầm quốc gia đã vinh danh rất nhiều văn, nghệ sĩ, những người có đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước. Điều đó cũng là sự khích lệ để người sáng tác có trách nhiệm hơn với công việc sáng tạo của mình”, nhà thơ Xuân Thiêm bày tỏ.

Lão nhà thơ để lại ấn tượng trong tôi là nụ cười hiền, giản dị. Với tôi những gì ông cần làm cho cuộc đời thì đã làm hết mình, hoàn thành tâm nguyện và giờ ông an nhiên với những giá trị và giai điệu của cuộc sống. 

Diên Khánh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.