Nhà thơ Vương Tâm và "thú chơi" ấm trà

“Đầu thập niên 1990 việc sưu tầm ấm trà cổ không hề dễ dàng. Tôi nhớ có lần vào làng gốm Chu Đậu cổ (Hải Dương), nơi có nhiều lò gốm quan (chuyên làm đồ cho quan lại dùng) bị chôn vùi theo năm tháng. Khi tôi được dẫn tới một gia đình trong làng cùng xem những vỉa đất họ đào ngay trên nền nhà”.

Nhà thơ Vương Tâm mở đầu câu chuyện về “hành trình” đi sưu tầm những chiếc ấm trà của mình. Ông nhà thơ tuổi Bính Tuất (1946) xem ra vẫn còn nhiều đam mê ngoài thơ. Vốn quê ở làng Hương Ngải, huyện Thạch Thất cũ, nay là xã Tây Phương, thành phố Hà Nội còn kể thêm: “Hồi chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ra miền Bắc, làng tôi được “đón” Tạp chí Văn nghệ Quân đội về sơ tán. Có lẽ sớm được tiếp xúc với những nhà văn nhà thơ nên tôi “bén” với văn chương thơ phú”.

Nhà thơ Vương Tâm và
Nhà thơ Vương Tâm bên một góc bộ sưu tập ấm trà.

Trong căn phòng nhỏ, diện tích 25 mét vuông, vừa là nơi viết lách lại vừa là nơi “trưng bày” những chiếc ấm trà sưu tầm được. Ông nhà thơ hào hứng lấy từng chiếc ấm ra để giới thiệu với khách. Đó đều là những chiếc ấm trà hầu hết được chế tác bằng gốm, số ít được làm bằng sành, sứ, thủy tinh và đồng. Mỗi chiếc ấm không chỉ là dụng cụ để pha trà mà trên hết đó là những “tác phẩm nghệ thuật” bởi hình dạng, chất liệu và độ quý hiếm của nó.

Quãng hơn 40 năm trước, nhà thơ Vương Tâm (khi ấy còn công tác ở Báo Hà Nội mới) đã “hứng thú” với chum sành, vại gốm. Ông kể rằng: “Tôi yêu gốm bắt đầu từ cuộc chơi trốn tìm trong những chiếc chum sành đựng thóc của nhà”.

Ký ức ngọt ngào đã thôi thúc ông nhà thơ tính tình hiền lành, viết lách chịu khó, thực hiện công việc sưu tầm gốm chum, gốm vại. Nhưng có một “sự kiện” khiến ông phải điều chỉnh lại công việc của mình. Đầu những năm 90 của thế kỷ 20, gia đình ông chuyển chỗ ở. Chính việc thay đổi chỗ ở đã đặt ra “bài toán”: Chơi gốm như thế nào cho hợp lý? Thế là nhà thơ Vương Tâm thay việc “chơi chum chơi vại” cồng kềnh, tốn diện tích bày đặt bằng “thú chơi ấm trà” thuận tiện hơn với “gia cảnh”. Bộ sưu tập ấm trà bắt đầu từ đó, cho tới nay cũng cỡ 30 năm có lẻ.

Ông nhà báo kiêm nhà thơ Vương Tâm mỗi lần đi cơ sở lấy tư liệu viết tin bài là mỗi lần “dò hỏi” tìm mua những chiếc ấm trà, nhất là những lần ông có dịp tới những làng quê có nghề làm gốm. Nhớ hồi đầu thập niên chín mươi, nghề làm gốm của ta bị mai một do đồ sành sứ Trung Quốc tràn ngập. Những chiếc ấm pha trà bằng gốm gần như vắng bóng trên thị trường và trong mỗi gia đình. Do đó việc sưu tầm vốn không dễ lại thêm khó.

Ông kể: “Lần về làng gốm cổ Chu Đậu xứ Đông (Hải Dương cũ) có tuổi nghề trên 700 năm ấy. Gia đình nghệ nhân làng nghề đã thu nhặt được không ít đồ gốm Chu Đậu trong một lò gốm cổ. Tuy nhiên những đồ này đều ít nguyên vẹn theo năm tháng. Hoặc khi đào dân làng cũng không có kinh nghiệm và kỹ thuật trong nghề khảo cổ nên nhiều món đồ hay bị sứt mẻ. Lần đó tôi mua một ông bình vôi chứ không tìm được một ấm trà theo ý muốn”.

Không “nản chí” ông nhà thơ “mê ấm trà” đã tiến hành mở rộng cuộc sưu tầm ấm trà tới những lò gốm nổi tiếng trên toàn quốc. Miễn sao có mẫu mã đẹp với tiêu chí “Nhất dáng nhì men”.

Ông cho hay: “Có lần sang lò Gốm Bụt bên làng Bát Tràng tôi được một bạn đồng nghiệp mua tặng một chiếc ấm với men tro độc đáo. Chiếc ấm nổi bật hiện tượng hỏa biến (với sự thay đổi bất thường của ngọn lửa) tạo nên màu men xám tro hòa trong sắc nâu tô điểm. Nghệ nhân đã vẽ hình ông hổ trên thành ấm với chủ đề “Thanh hổ”. Nét vẽ ông hổ màu xanh thể hiện sự êm đềm dịu dàng và tượng trương sự phát triển nảy nở sinh sôi. Nhưng thật bất ngờ người nghệ nhân nâng chiếc ấm lên cao rồi ngâm ngợi đọc chậm rãi những câu thơ thiền: “Để là đất cất lên ông Bụt/ Hỏa biến hồng mãnh hổ mỉm cười/ Bao buồn vui, tử sinh, ly biệt/ Cõi thiền trà tựa áng mây trôi”.

Cứ dày công cóp tìm theo kiểu “tích tiểu thành đại” mà dần dà bộ sưu tập ấm trà của nhà thơ Vương Tâm dày lên theo năm tháng (hiện có trên 500 ấm trà). Nhưng quan trọng là ở ông nhà thơ này là đam mê và cực kỳ yêu gốm, yêu những nghệ nhân làng gốm trong mọi miền của Tổ quốc.

Lần ông tới thành phố Bảo Lộc (cũ) của tỉnh Lâm Đồng là lần ông đi lấy tư liệu để viết bài về quãng thời gian nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hồi trẻ. Thời chưa thành danh chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn lên Bảo Lộc làm nghề “gõ đầu trẻ”. Rất may là nhà thơ Vương Tâm đã gặp được nhà văn Ninh Thế Hùng, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Bảo Lộc. Lại may nữa khi nhà văn Ninh Thế Hùng năm xưa là học trò “Thầy Sơn”.

Ông nhà văn “xứ chè Bảo Lộc” đã đưa nhà thơ Vương Tâm tới thăm lại “ngôi trường xưa thầy Sơn từng đứng lớp”. Nhà thơ Vương Tâm đã sưu tầm được một chiếc ấm rất độc đáo được làm từ đất Tử Sa (do một người Đài Loan mang đất sang), chiếc ấm được những nghệ nhân làm gốm Bảo Lộc chế tác thành dạng hình cây đàn - cây đàn mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã dùng để viết lên ca khúc “Mưa hồng” ngay trên cao nguyên Di Linh?

Ca khúc là nỗi lòng của người nhạc sĩ thuở ban đầu với một cô gái trẻ mà chàng trai thầm yêu trộm nhớ ở trên vùng đất lạnh BLao: “Trời ươm nắng cho mây hồng/ Mây qua mau em nghiêng sầu/ Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm/ Mây âm thầm mang gió lên”.

Có lần nhà thơ Vương Tâm xuống phố biển Hải Phòng, lúc thư nhàn ông “lang thang đi tìm ấm trà”. Ở chợ Hàng, một chợ độc đáo chỉ họp vào Chủ nhật hàng tuần tại phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân cũ, thành phố Hải Phòng. Trong cái chợ nổi tiếng vì bán đủ loại cây cối, chim, cá, chó, gà, mèo và các vật nuôi, đồ dùng cảnh khác vậy mà “tình cờ” nhà thơ Vương Tâm “phát hiện” có người đang bán ấm trà.

Ông vội tới hỏi mua, đó là một chiếc ấm trà có dáng hình một cặp đôi chim Phượng. Chiếc ấm hình con chim Phượng trống được đặt trong chiếc đĩa hình con chim Phượng mái. Một hình tượng “mang triết lý sinh tồn” độc lạ.

Nhưng có lẽ nhiều nhất là ấm trà Tử Sa, khoảng trên 100 chiếc. Nhà thơ Vương Tâm cho hay: “Gọi là ấm Tử Sa bởi ấm được nghệ nhân làm gốm chế tác từ chất đất Tử Sa, một loại đất sét đặc biệt chỉ có duy nhất tại thị trấn Đinh Thục, Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nổi tiếng với thành phần khoáng chất độc đáo và nhiều màu sắc tự nhiên. Loại đất này có hàm lượng sắt cao, sau khi nung ở nhiệt độ cao sẽ tạo ra các "khí khổng" li ti, mang lại bề mặt mịn màng nhưng có độ xốp và khả năng giữ nhiệt, thấm hút tốt, giúp tăng hương vị cho trà.

Nhà thơ Vương Tâm và
Chiếc ấm hình cây đàn.

Câu chuyện sưu tầm ấm trà chợt chuyển sang chuyện dùng trà. Nhà thơ Vương Tâm ở lĩnh vực này cũng rất “thạo”. Ông thong thả mở hộp đựng trà bằng gốm ra rồi cẩn thận dùng thìa nhỏ cũng bằng gốm để múc từng thìa chè một bỏ vào chiếc ấm pha trà bằng gốm thường ngày ông vẫn dùng.

Vừa pha trà nhà thơ Vương Tâm vừa chậm rãi nói: “Pha trà hay nói cách khác là uống trà cũng là một nghệ thuật. Đó là “Nghệ thuật thưởng trà”, môn này sinh thành từ một nền văn hóa trà mà dân tộc ta đã hình thành hàng trăm năm. Xa xưa cụ Nguyễn Khuyến đã thể hiện rõ nét: “Khi trà chuyên năm ba chén/ Khi Kiều lảy một đôi câu”; hoặc thi hào Nguyễn Du cũng tâm đắc: “Khi hương sớm lúc trà trưa/ Bàn lan điểm trước đường tơ họa đàm”. Chính vì thế những chiếc ấm có phần điểm tô cho không gian văn hóa trà Việt thêm ngát hương”.

Được hay, trong thưởng trà thường có mấy hình thức sau: Đầu tiên là “Độc ẩm”, đây là cách thưởng trà người cao tuổi hay sử dụng bởi những người này thường uống trà vào buổi sớm mai lòng đầy tự sự. Tiếp đó là “Nhị ẩm”, lối dùng trà kiểu hai người bạn tâm giao cùng đàm đạo.

Tiếp nữa là “Tam ẩm”, cách dùng trà này người xưa thường nói “Chè tam rượu tứ”, một lối dùng trà phổ biến và như theo người xưa thì uống trà ba người sẽ “công bằng” hơn vì có người nói có người nghe và có người phân giải. Cuối cùng là “Quần trà”, lối uống trà có số đông tham gia, kiểu như hội họp chẳng hạn.

Cuối buổi “nhị ẩm”, nhà thơ Vương Tâm lấy ra chiếc ấm mà ông sưu tầm được ở một ngôi chùa trong Phan Thiết. Nét độc đáo là trên nắp ấm và quanh thân ấm được nghệ nhân cẩn thận khắc toàn bộ Bộ Kinh Bát Nhã. Như vẳng lên câu: “Thị cổ không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức” nghĩa là: “Không sinh không diệt, không đến không đi” và trong cái “Không” đó “Không còn sự phân biệt hay chấp trước về chúng”.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.