Nhà thơ Vũ Bình Lục: Có đi, ắt đến

Vũ Bình Lục tuổi Mậu Tý (1948), quê gốc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Học hết cấp II ở quê, ông sang Kiến An học tiếp cấp III và lên đường nhập ngũ năm 1967, khi chưa hoàn thành chương trình phổ thông năm cuối cấp. Sau mấy năm chiến đấu ở chiến trường khu V, Vũ Bình Lục được ra Bắc điều dưỡng, rồi giải ngũ về quê...

Ông thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đã xuất bản hàng chục tập thơ riêng, từng đoạt giải Nhì (không có Nhất) cuộc thi thơ 2003-2004 của Tạp chí Văn Nghệ Quân đội. Từng là trợ lý tham mưu tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu V, thương binh 4/4, rồi "dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú" khi còn ở tuổi đôi mươi đầy nhiệt huyết, ba mươi năm dạy học và đọc sách bồi bổ kiến văn, khi về hưu, ông dồn toàn bộ tâm lực vào công việc sáng tạo văn chương. Chỉ với khoảng 6 năm, nhà văn Vũ Bình Lục đã công bố một số công trình dịch và bình giải thơ hàng nghìn năm của thơ ca Việt Nam thời kỳ Trung đại.

Vũ Bình Lục tuổi Mậu Tý (1948), quê gốc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Học hết cấp II ở quê, ông sang Kiến An học tiếp cấp III và lên đường nhập ngũ năm 1967, khi chưa hoàn thành chương trình phổ thông năm cuối cấp. Sau mấy năm chiến đấu ở chiến trường khu V, Vũ Bình Lục được ra Bắc điều dưỡng, rồi giải ngũ về quê.

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội I khóa 1973-1977, ông xin về Thái Bình dạy Văn ở một trường cấp III (nay là THPT) gần nhà. Được mươi năm thì ông lại bồng bế gia đình chuyển vào Tây Nguyên tiếp tục dạy học và còn kiêm thêm cả nghề "canh điền", trồng cà phê nữa. Ông xin nghỉ hưu trước 30 tháng, lại hồi hương về Bắc và chọn Hà Nội làm nơi định cư cuối cùng, rồi đắm đuối với văn chương...

Trong số các nhà văn ở nước ta hiện nay, tôi nghĩ có một số người hơi bị "điên", nhưng mà họ lại "điên" một cách rất đáng yêu. Nguyễn Nhật Ánh viết như điên, bằng cả tấm lòng của ông với lứa tuổi mới lớn. Nguyễn Duy một thời tuyên bố không làm thơ nữa, nhưng ông lại đem thơ "đính" vào những cái rổ rá, thúng mẹt dần sàng, treo khắp đó đây.

Mai Văn Phấn viết như điên, thơ chồng chất lên như gò đống. Nguyễn Vũ Tiềm làm thơ, làm báo, làm sách, viết cả lý luận về thơ, rồi hăng hái cổ súy cho thơ đổi mới. Hiện tại thì ông lại đang lao vào viết văn xuôi, lao tâm khổ tứ như điên và còn nhiều, nhiều người nữa. Tôi cho rằng Vũ Bình Lục cũng là một người "điên" kiểu như mấy ông nhà văn tôi vừa kể trên, nhưng ông lại "điên" theo cách của riêng ông, chả lẫn với ai...

Nhà thơ Vũ Bình Lục (phải).
Nhà thơ Vũ Bình Lục (phải).

Gần gũi Vũ Bình Lục dăm bảy năm nay, gần đây tôi mới hỏi ông rằng ông còn làm thơ nữa không, hay chỉ ngồi viết sách? Ông cười hiền bảo, tôi vẫn làm thơ hàng ngày đấy chứ, nhưng là những bài thơ ngắn, có thể chỉ là vài ba bốn câu, ứng tác ngay trên "Phây" của mình cho bạn đọc trong và ngoài nước thưởng thức cho vui. Nếu thu gom đem chỉnh sửa để in, thì cũng được vài ba tập. Nhưng điều tôi muốn nói về ông trong bài viết này, chủ yếu nhằm vào công trình mới nhất là bộ sách 2 tập "HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM" ông viết về Nguyễn Trãi.

Khởi thảo từ hàng chục năm trước, nhưng mãi đến năm 2015, Vũ Bình Lục mới bắt tay vào việc hoàn tất bộ sách này. Bộ "HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM" đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn công bố vào quý II năm 2015, khoảng gần 1600 trang khổ 14,5 X 20,5 cm. Sách ông tự bỏ tiền ra in và tự phát hành. Ngoài mấy tập "GIAI PHẨM VỚI LỜI BÌNH" trước đây giới thiệu xen lẫn văn học dân gian, với một số tác phẩm thơ trung đại và hiện đại, đến nay, Vũ Bình Lục đã liên tiếp làm những cuốn sách chuyên đề về thơ Lý-Trần (Tinh tuyển - 704 trang), "Thánh thơ Cao Bá Quát" (Tinh tuyển - 704 trang) và toàn bộ thơ chữ Hán, thơ Nôm Nguyễn Trãi. Nếu xét riêng về việc dịch thơ, nếu tôi không nhầm thì Vũ Bình Lục chính là người dịch thơ nhiều nhất ở nước ta tính đến thời điểm này, gần 500 bài cả thảy, trong đó, không ít bản dịch đã đạt đến mức Tín, Đạt, Nhã... Chỉ xin dẫn ra đây một số ví dụ rút trong tập thứ nhất:

Mộ xuân tức sự 

Phiên âm:

Nhàn trung tận nhật bế thư trai,
Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão,
Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai. 

Dịch nghĩa:

Cuối xuân tức cảnh 

Thong thả trọn ngày đóng cửa phòng sách / Ngoài cửa không hề có khách tục đến / Trong tiếng đỗ quyên kêu nghe xuân đã về già / Đầy xuân hoa xoan nở dưới mưa phùn. 

Dịch thơ:

Ngày nhàn khép cửa phòng văn,
Tịnh không khách tục đến thăm cửa ngoài.
Quyên kêu xuân đã muộn rồi,
Đầy xuân xoan nở dưới trời mưa bay. 

Cũng có những bản dịch đầy sáng tạo mà không gây tổn hại đến nguyên tác, câu thơ thứ hai lên làm câu đầu: 

Trại đầu xuân độ

Phiên âm:

Độ đầu xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô châu trấn nhật các sa miên. 

Dịch nghĩa:

Cỏ xuân đầu bến xanh như khói / Lại thêm có mưa xuân nước vỗ vào nền trời / Đường ngoài nội vắng teo ít người đi lại / Chiếc thuyền đơn côi suốt ngày gối đầu lên bãi cát say ngủ. 

Dịch thơ:

Mưa xuân nước vỗ lưng trời,
Cỏ xuân như khói xanh phơi bến đò.
Vắng teo đường nội quanh co,
Bãi sông gác mũi con đò ngủ say.
 

Bằng thể thơ lục bát truyền thống, Vũ Bình Lục đã đem đến cho bạn đọc những bản dịch thơ khá uyển chuyển, sát nội dung nguyên tác, chắc chắn người đọc sẽ dễ dàng tiếp nhận.

Trò chuyện với Vũ Bình Lục, tôi hỏi rằng ông có giỏi chữ Hán - Nôm không mà dám làm những công trình rất khó này, ông bảo: "Tôi chả giỏi chữ Hán-Nôm đâu, nhưng cũng có được đào tạo chút đỉnh hồi còn là sinh viên khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội I. Khoa chọn ra 8 người trong số sinh viên của khoa để mở một lớp Hán-Nôm nâng cao, do Giáo sư Đặng Đức Siêu trực tiếp giảng dạy, tôi là một trong 8 người may mắn được chọn, khi kết thúc thì cấp chứng chỉ hẳn hoi".

Kiến thức học được ở giảng đường cũng mới chỉ là sơ sơ thế thôi, nhưng nó cũng rất bổ ích cho công việc của ông trong hiện tại. Ông còn bảo rằng phần Văn bản học và khảo cứu đã được nhiều thế hệ các bậc tiền bối làm rồi, ông sử dụng "Phương pháp con ong" của Bê-cơn, nghĩa là tiếp thu và kế thừa tinh hoa của những người đi trước, sử dụng thành quả Văn bản học của những người giỏi về Hán Nôm, rồi làm tiếp việc dịch thơ và bình giải tác phẩm.

Ông bình giải bài thơ bắt đầu từ đơn vị nhỏ nhất là chữ, cố gắng tìm ra ý tưởng chủ đạo trong cái hay cái đẹp của bài thơ, đồng thời căn cứ vào nội dung để ước đoán hoàn cảnh sáng tác của từng bài thơ, do đó, ít nhiều đã đóng góp những ý kiến phản biện có lý, có tình. Là bởi vì bản gốc thơ Nguyễn Trãi đã bị triều đình thiêu hủy, việc sưu tầm khảo cứu vẫn có sự "tam sao thất bản", cho nên thảo luận thêm cho sáng tỏ vấn đề cũng là việc rất nên làm.

Đọc bộ sách "Hồng Hạc cõi trời Nam" của Vũ Bình Lục, Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học nói vui rằng, Vũ Bình Lục đã là một thành viên tích cực của Viện Văn học rồi đấy! Hỏi ông tại sao cứ đam mê làm cái công việc chả đem đến lợi ích cụ thể nào cho cá nhân mình, Vũ Bình Lục bảo lương hưu dăm sáu triệu tạm đủ sống rồi, thì thời gian còn lại dành cho đam mê của mình. Thực ra, Vũ Bình Lục muốn góp phần mang đến cho bạn đọc thấy được giá trị sáng tạo vô cùng to lớn của cha ông xưa! Đấy cũng là một cách truyền lửa cho thế hệ sau biết tổ tiên mình như thế nào, biết mình là ai vậy!

Đọc phần tổng quan có nhan đề "Nguyễn Trãi 600 năm nhìn lại", thấy tác giả có những nhận xét rất xác đáng. Ông viết rằng Nguyễn Trãi vĩ đại hơn những người vĩ đại chính là ở chỗ cụ đã tiếp thu tinh hoa văn hóa của Trung Hoa, để nâng cấp nó lên thành tinh hoa văn hóa Đại Việt, thành minh triết nhân văn Đại Việt, nhằm đánh bại kẻ thù có sức mạnh quân sự và hàm lượng văn hóa sâu rộng hơn mình. Vũ Bình Lục còn cho rằng Nguyễn Trãi chẳng những góp phần cứu dân tộc ta thoát khỏi cái họa nô dịch của ngoại bang, mà còn cứu cả nền văn hóa của dân tộc ta, thông qua những tuyệt phẩm thơ Nôm của ông.

Vũ Bình Lục vốn khiêm nhường, nhưng tìm hiểu thì biết ông đã có những phản biện rất táo bạo, giúp ngành Giáo dục chỉnh lý một số tác phẩm văn chương trong nhà trường, từ hơn chục năm trước. Đơn cử như ý kiến của ông về bài thơ "Bánh trôi nước", "Tự tình"...của Hồ Xuân Hương, một số bài thơ chữ Nôm và chữ Hán của Nguyễn Trãi, một số bài thơ Cao Bá Quát, bài thơ "Bạch Đế Thành" của Lý Bạch v.v... Năng lực và công lao của ông chưa được nhiều người biết đến một cách đúng đắn và đầy đủ.

Hiện ông đang chuẩn bị dịch thơ và bình giải thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm và chọn giới thiệu một số tác giả thơ thế kỷ XV ngoài Nguyễn Trãi, như Lê Thánh Tông, Lý Tử Tấn, Thái Thuận, Nguyễn Bảo...

Hỏi ông sao có thể làm sách nhanh đến thế, ông bảo đấy là do ông có trí nhớ rất tốt. Kiến thức có sẵn trong đầu, chỉ cần ngồi gõ máy viết thôi. Công nghệ thông tin giúp ông làm việc rất có hiệu quả. Ông viết nghiên cứu, phê bình, dịch thơ, làm thơ trực tiếp trên máy vi tính, sửa ngay trên máy. Ông bình thơ cổ và cả thơ của nhiều tác giả hiện đại bằng cảm hứng sáng tác say mê.

Ngoài ra, ông còn sẵn sàng nhận lời viết tham luận cho các hội thảo văn chương và lịch sử, viết lời giới thiệu sách. Vũ Bình Lục còn là người viết lời bình thơ thường xuyên trên báo Nhi Đồng. Ông cũng được Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam mời trao đổi về thơ ca cổ, về thơ của các nhà thơ Việt Nam đương đại. Những bài bút ký văn học, tản văn hoặc tùy bút của Vũ Bình Lục có nhiều chất thơ. Được biết, ông đã hoàn thành bản thảo cuốn sách "Đi qua chiến tranh" và một tập văn xuôi. Như ở phần đầu bài đã nói, Vũ Bình Lục là thương binh chống Mỹ, một người lính đặc công từng xông pha vào chỗ sống chết mấy năm ròng, mảnh đạn còn găm trên đầu, mỗi khi trái gió trở trời vẫn làm ông đau đớn…

Đáng mến và đáng nể trọng đối với bạn đọc, bạn nghề, đó chính là Vũ Bình Lục!

Hà Nội, tháng 2-2016

Phạm Đình Ân

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.