Nhà thơ Trịnh Công Lộc: Tác phẩm tâm huyết vẫn đang ở phía trước

Gần chục năm trở lại đây, cái tên Trịnh Công Lộc đã không còn xa lạ với công chúng cả nước. Đặc biệt bài thơ “Mộ gió” được nhạc sĩ Vũ Thiết phổ thành ca khúc hùng tráng, mang đậm tính sử thi “Khúc tráng ca biển” đã tạo nên “cú đúp” tại cuộc vận động sáng tác lớn mang tên “Đây biển Việt Nam” vào năm 2011.

Gần đây, tập thơ lấy nhan đề bài thơ nổi tiếng này đã đưa ông đến ngôi vị cao nhất (đồng giải Nhất) tại Giải thưởng văn học về biên giới, hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam.

1. Lần nào gặp nhà thơ Trịnh Công Lộc, tôi cũng thấy ông chậm rãi, giản dị và đầy tâm huyết khi nói về văn học. Có lẽ nhờ thời gian dài từng dạy Ngữ văn cấp 3 cũng như tham gia công tác Tuyên giáo nên trong cách trò chuyện của ông luôn thật lôi cuốn, hấp dẫn người đối diện. 

Và lần này cũng vậy, ông hẹn tôi đến cơ quan ở phố Lý Nam Đế (Hà Nội) để chia sẻ nỗi niềm sau khi nhận Giải thưởng văn học về biên giới, hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam. Vẫn câu nói đùa quen thuộc: “Cơ quan ở tít bên trong, còn bác ở đây vừa làm chuyên môn, vừa làm... bảo vệ”, ông đã dẫn dắt tôi vào thế giới của văn học như thường lệ.

Nhà thơ Trịnh Công Lộc.
Nhà thơ Trịnh Công Lộc.

Đã không ít lần ông khẳng định, biên cương, hải đảo là vấn đề lớn gắn với vận mệnh của dân tộc mà người cầm bút phải dấn thân để thể hiện trách nhiệm công dân lớn lao của mình. Chủ đề ấy bao giờ cũng truyền cảm, nóng bỏng và hấp dẫn người cầm bút. 

Ông đã kiên trì theo đuổi chủ đề này suốt nhiều năm và với việc là một trong 4 tác giả nhận giải Nhất - Giải thưởng văn học về biên giới, hải đảo lần này là một sự ghi nhận, động viên hết sức kịp thời và có ý nghĩa thiết thực.

Theo ông giải thưởng này là một tư tưởng mà có được tư tưởng ấy bình tĩnh nghĩ lại phải cám ơn nhà thơ Hữu Thỉnh. Chính Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa IX đã đề xướng giải thưởng này để khuyến khích các văn nghệ sĩ sáng tác về chủ đề mang tính chiến lược, lâu dài của dân tộc. Nếu các cây bút vươn tới đạt được yêu cầu của ý tưởng đó, ông tin rằng văn học nước nhà sẽ có những tác phẩm xứng tầm.

Nhìn vào đội ngũ những cây bút trẻ nhận Giải thưởng văn học về biên cương, hải đảo lần này ông lạc quan cho biết: Có những người trẻ viết về biên cương, hải đảo cũng có nhiều dấu ấn tích cực tuy nhiên số lượng còn ít, chất lượng còn ở mức độ nhưng là đáng mừng. Có lẽ đó sẽ tiền đề trong chặng đường sáng tác của họ sau này và kéo theo đó là thu hút những người tâm huyết với lĩnh vực này vào cuộc. 

Ông tâm sự: “Tôi nghĩ bộ phận trong giới cầm bút trẻ có xu hướng rất lành mạnh. Đọc tác phẩm của họ có nhiều bài rất vững và tôi tin với sự hấp dẫn, lôi cuốn này thời gian sau sẽ có tác phẩm xuất sắc về biên cương, hải đảo cũng như những vấn đề khác của đất nước”.

2.Mặc dù khẳng định nhà thơ không thể mãi đi theo lối mòn mà phải không ngừng tìm tòi, đổi mới, sáng tạo để tìm cho mình con đường đi riêng nhưng ông cũng lưu ý, đổi mới nhưng không thoát được hồn cốt của dân tộc, phải xuất phát từ dân tộc. Chỉ có đổi mới trên nền văn hóa, văn học dân tộc thì mới vững vàng. Hay nói một cách khác viết cho người Việt thì người Việt phải cảm nhận được đầu tiên trước khi nghĩ đến việc quảng bá ra bên ngoài. 

Cũng theo ông hiện nay có một đặc tính mới của văn học là có những vấn đề của toàn cầu nhưng được viết ra dưới góc nhìn của người Việt, đòi hỏi người cầm bút phải xuất phát từ cảm nghĩ, tư duy, mẫn cảm, truyền thống của người Việt, thì tác phẩm mới đọng lại trong lòng độc giả.

“Trong lịch sử văn học nước nhà có những người đứng đầu Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam có uy tín rất lớn, như nhà thơ Huy Cận, nhà văn Nguyễn Đình Thi, họa sĩ Giáng Hương hay nhạc sĩ Trần Hoàn. Họ làm việc trọn đời không phải chứng tỏ riêng vấn đề tuổi tác mà còn là uy tín lớn để tập hợp và hướng đội ngũ hội viên đến những vấn đề trọng đại của đất nước, đặc biệt họ giữ được nền văn học cách mạng của dân tộc trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. 

Nếu không có những người tâm huyết kể trên thì sẵn sàng có những kẻ rình rập, phủ nhận lịch sử cũng như thành tựu của nền văn học của dân tộc mà cha ông ta đã dày công vun đắp, giữ gìn, tiếp nối. Chính các bác ấy làm việc trọn đời, đã giữ cho nền văn học cách mạng nước nhà. Đấy là tầm quan trọng bậc nhất mà tôi nghĩ những người có trách nhiệm sẽ thấy rất rõ, từ đó mới nhìn nhận về mặt tổ chức, hoạt động của đội ngũ văn học nghệ thuật”, nhà thơ Trịnh Công Lộc nhấn mạnh.

Nhà thơ Trịnh Công Lộc (thứ ba từ phải sang) nhận Giải thưởng văn học về biên giới, hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhà thơ Trịnh Công Lộc (thứ ba từ phải sang) nhận Giải thưởng văn học về biên giới, hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam.

3. Nhà thơ Trịnh Công Lộc luôn quan niệm, thơ có phép nhiệm màu. Khi còn là sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội những năm 70 của thế kỷ trước, phép màu ấy đã gần như nhuốm hết tâm trí ông và có lẽ chỉ còn một phần rất nhỏ cho những công việc khác. 

Ông cũng thừa nhận mình may mắn khi có thêm văn bằng đại học chuyên ngành nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học. Chính công việc khẩn thiết phải chủ trì, chủ biên, xuất bản sách về lịch sử, văn học thì thơ lại là nguồn cảm hứng lay động, rung rinh từng trang viết.

Với ông, thơ thật khó cắt nghĩa. Đường đời dài lâu nhưng thơ còn rất ngắn. Những bài thơ đầu tiên được in báo, bạn bè cho là ấn tượng nhưng với ông đều đã là kỷ niệm. Phía trước đang chờ đợi và thách thức. Sáng tạo không ngừng và cuộc sống cũng không ngừng vận động. Chả là khi biết ông có số lượng thơ viết nhiều, đăng báo cũng không ít nhưng chưa in thành tập nào, nhiều bạn bè, đồng nghiệp có hỏi thì nhận được câu trả lời của ông: “Thơ là cái cớ để chia sẻ với bạn bè, thơ cũng là mối duyên tơ”. 

Ngày ngày ông bám đuổi lấy thơ vì thơ mà cũng lắm liêu xiêu, xô đẩy đành phải đi về phía cuối cùng như những câu thơ trong bài “Đâu đây”: “Có thể là tôi, người về phía cuối cùng/ Kết cục là không như bao người khác/ Không danh giá cũng không tiền bạc/ Thả vô tư bay xuống đậu vai người”. Và trong nhiều cuộc vui, ông đã có lần tự đọc: “Vẫn biết mình nho nhỏ/ Cứ thế này chầm chậm về sau (trích “Nho nhỏ thôi”).

Thơ của Trịnh Công Lộc trần trụi, giản dị như bức tranh của đời sống đang hiện ra trước mắt, và cũng như cuộc sống đời thường của ông, nhưng đã nói được những điều lớn lao của dân tộc mà như nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Thơ Trịnh Công Lộc đã vượt qua được những giới hạn của ý thức hệ đến tầm khái quát sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ chủ quyền. Đấy là một phát hiện sáng tạo và cũng là dũng cảm”. 

Sau sự thành công của “Mộ gió”, “Từ biển mà đi”, “Vành tang núi”… không làm ông hài lòng, tự mãn, ông tiết lộ mình đang “thai nghén” một trường ca về biên cương, hải đảo.

Theo ông thì tác phẩm ưng ý và tâm huyết nhất vẫn ở phía trước, thử thách, chông gai đang còn hiển hiện trong tương lai. “Cái đã qua rồi đến một lúc nào đó sẽ trở thành kỷ niệm, chúng ta không “ăn mày quá khứ” mãi được. Tất cả chúng ta chỉ mang lòng quyết tâm là luôn giữ lấy cảm hứng, nhiệt tình, tâm huyết để tự đi bằng chính đôi chân của mình. 

Có người nói bây giờ viết khó thế, nhưng thực tế khó là do tài năng của người cầm bút. Bởi hiện thực ngồn ngộn với bao vấn đề đặt ra trước mắt, vấn đề là tài năng của anh có kham nổi, bao hàm, nhào nặn, nhuần nhuyễn được cái đó hay không mà thôi”, ông trầm ngâm cho biết. Tôi tin và chờ đợi ơ những bước đường sáng tạo phía trước của ông.

Ngô Khiêm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.