Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp: Một tài hoa trong trẻo

Nguyễn Nhược Pháp là chàng trai chỉ đi qua dương thế chưa tròn 24 năm, nhưng những vần thơ trong trẻo “lúc nào hình như cũng thoảng thấy bóng một người đương khúc khích cười” của Nguyễn Nhược Pháp vẫn luôn được người đời nhớ đến, nhất là bài thơ dài “Chùa Hương”. Và nỗi tiếc thương Nguyễn Nhược Pháp “đóa hoa một mùa” vẫn còn mãi trong lòng những người thương mến...

Có lẽ, do cuộc dạo chơi trần thế của chàng thư sinh Nguyễn Nhược Pháp quá ngắn ngủi, cùng với sự biến động của lịch sử và gia đình, nên những sáng tác của ông, những tư liệu về ông được hậu thế biết đến không nhiều.

Ngoài 2 bài thơ và lời bình của Hoài Thanh - Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam”, thảng hoặc mới có một bài viết về Nguyễn Nhược Pháp của những người bạn thân, người cùng thời như Phạm Huy Thái, Vũ Bằng, Nguyễn Vỹ, Bàng Bá Lân… nhân dịp kỷ niệm nào đó, nhưng có lẽ thường chỉ giới nghiên cứu mới tiếp cận được.

1.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (12/12/1914 - 19/11/1938).

Gần đây, thật tình cờ tôi có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Lân Bình, là cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh, người gọi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là bác ruột và hiện đang chăm lo phần hương hỏa của đại gia đình. Nhờ ông Bình, tôi may mắn có được “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa”, cuốn sách mà tôi tìm kiếm đã lâu.

Ông Nguyễn Lân Bình chính là người đã dày công biên soạn cuốn sách từ nguồn tư liệu đã được những người em của Nguyễn Nhược Pháp là Nguyễn Phổ, Nguyễn Kỳ và Nguyễn Thị Mười dày công tìm kiếm, sưu tầm từ các đầu sách báo cũ. Theo chia sẻ của ông Bình, mục đích của việc làm này là “vì sự trân trọng tài năng của người anh xấu số và thương mến cốt cách của người anh đã từng là “thầy giáo” của gia đình”.

Cuốn sách gồm các sáng tác thơ, truyện ngắn, kịch và phê bình văn học bằng tiếng Pháp của Nguyễn Nhược Pháp. Chính cuốn sách này đã giúp tôi trả lời nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc về một “người thơ” đã đi qua dương thế khi tuổi đời còn rất trẻ, cách đây gần 90 năm nhưng như đánh giá của Hoài Thanh, Hoài Chân là “có một địa vị trên thi đàn”.

Chính vì thế, cuốn sách “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa” ra đời, “không chỉ là sự bù đắp sự mất mát to lớn của riêng Nguyễn Nhược Pháp, mà còn thể hiện sự nể phục của tất cả anh chị em trong gia đình khi chứng kiến sự thông thái, điềm đạm và luôn sống sáng tạo trong công việc ở một con người có đầu óc thông minh…”.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là người con thứ bảy của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, kết quả của mối tình giữa ông và người vợ hai bà Phan Thị Lựu - con gái một thổ ty giàu có ở Lạng Sơn. Mẹ đẻ mất khi mới lên 2 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp được mẹ cả là bà Đinh Thị Tính đón về nuôi dưỡng, được cả gia đình yêu thương, quý trọng, đặc biệt là mẹ cả.

Theo lời kể của những người thân trong gia đình, khi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời vì bệnh lao, mẹ cả Đinh Thị Tính đã ốm và không ăn nhiều ngày vì quá buồn phiền. Những năm cuối đời, nhiều lần cụ bà Vĩnh đã chia sẻ ý nguyện sau này “khuất bóng” thì “cho mẹ về nằm cạnh thằng Pháp”. Chỉ những chi tiết như thế, cũng đủ cho thấy ông được gia đình thương yêu và tiếc nhớ biết chừng nào.

Theo chia sẻ của nhà văn Vũ Bằng trong bài viết “Nguyễn Nhược Pháp, một nhân tài yểu mệnh” có kể lại rằng, do công việc bận rộn nên cả hai cụ Nguyễn Văn Vĩnh đều không biết việc Nguyễn Nhược Pháp làm thơ, viết báo, in sách. Mãi sau khi có bài viết khen tập thơ “Ngày xưa” (do Nguyễn Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1935) của Nguyễn Nhược Pháp trên Báo Trung Bắc tân văn của cụ cử Mai Đăng Đệ, cụ Vĩnh mới tạt vào xem bài báo. Sau đó, khi đọc tập “Ngày xưa”, cụ Vĩnh đến giữa tòa soạn cười ha hả mà nói rằng: “Cũng hay, tôi không ngờ lại có con là thi sĩ. Nhờ các tiên sinh dìu dắt, cháu sau này chịu khó là nhờ ơn các tiên sinh”.

2..jpg -1
Cuốn sách “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa” có nhiều tư liệu quý giá về nhà thơ tài hoa bạc mệnh.

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh qua đời năm 1936 và hai năm sau đó người con trai mà gia đình rất mực thương yêu, hy vọng Nguyễn Nhược Pháp cũng qua đời vì căn bệnh lao hạch. Học giả Nguyễn Văn Vĩnh không được chứng kiến việc ông có hai người con trai là thi sĩ, có thơ được chọn vào thi tuyển “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân lưu lại cho hậu thế.

Trong “Thi nhân Việt Nam”, Nguyễn Nhược Pháp xuất hiện với 2 bài thơ là “Tay ngà” và “Chùa Hương”, là 2 bài thơ rút từ tập “Ngày xưa”, khi đó tác giả mới 21 tuổi. Tuy nhiên, theo tiết lộ của Hoài Thanh - Hoài Chân: “Chúng tôi còn muốn trích 2 bài nữa: “Sơn Tinh - Thủy Tinh” và “Một buổi chiều xuân”, nhưng không thể được vì phải chiều theo lời yêu cầu của ông Nguyễn Giang. Các bạn chịu khó xem quyển “Ngày xưa”.

Ông Nguyễn Giang mà Hoài Thanh-Hoài Chân nhắc đến ở đây, chính là người anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Nhược Pháp, cũng có thơ được tuyển và giới thiệu trong “Thi nhân Việt Nam”. Có thể do sự trân trọng với cha họ là học giả Nguyễn Văn Vĩnh - người đầu tiên dịch tác phẩm “Truyện Kiều” ra chữ Quốc ngữ ở miền Bắc và có nhiều công lao lớn trong việc phổ cập chữ quốc ngữ và phát triển hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX, nên trong lời giới thiệu, Hoài Thanh - Hoài Chân đã dành cho họ những lời ngắn gọn nhưng đầy trọng thị.

Đối với họa sĩ, nhà thơ Nguyễn Giang, lời giới thiệu ghi: “Con nhà văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. Trên 30 tuổi. Đã du học bên Pháp. Về nước chủ trương Âu tây tư tưởng và Đông Dương tạp chí. Họa sĩ hơn là thi sĩ. Đã xuất bản "Trời xanh thẳm" (1935)”. Cùng với lời bình thừa nhận việc “không dám chắc đã hiểu được thơ Nguyễn Giang”, nhưng Hoài Thanh - Hoài Chân vẫn giới thiệu 3 bài thơ của Nguyễn Giang là: “Xuân”, “Con đường nắng”, “Mẹ”.

Còn đối với Nguyễn Nhược Pháp, lời giới thiệu ghi: “Con nhà văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. Sinh ngày 12/12/1914, mất ngày 19/11/1938. Học ở Hà Nội. Có bằng tú tài tây. Làm thơ từ 1932. Ngoài thơ có viết nhiều truyện ngắn và kịch. Có viết giúp: Annam nouveau, Hanoi báo, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí. Đã xuất bản: "Ngày xưa" (1935)”.

Cùng với lời giới thiệu là bài bình thơ khá dài với rất nhiều trìu mến: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng được Nguyễn Nhược Pháp. Không mến sao được? Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của các nhà sử học, không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa với những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của “thắt lưng dài đỏ hoe”, nhưng đôi “dép cong” nho nhỏ. Những cảnh ấy vốn có thực. Nhưng dầu sự thực không có thì nhà thơ sẽ tạo ra, khó gì…”.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời năm 1938, 4 năm sau “Thi nhân Việt Nam” mới ra đời, nhưng Nguyễn Nhược Pháp vẫn trở thành một nhà thơ nổi tiếng, đặc biệt là với bài thơ ngũ ngôn “Chùa Hương” sáng tác năm 1934 và được NSND Trung Đức phổ nhạc vào khoảng những năm 80 của thế kỷ trước, được rất nhiều người yêu mến.

Nhưng ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn rất say mê với kịch, từng sáng tác một số vở kịch ngắn đăng báo và đã được gia đình sưu tầm, in lại trong cuốn “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa” như: “Một chiều chủ nhật”, “Khỏi nấc”, “Sầm Sơn”, “Người học vẽ”, “Bữa cơm”, “Người lao”. Ông từng cùng với một số người bạn thân, đặc biệt với người bạn tri kỷ là nhà thơ Phạm Huy Thông, “ôm mộng” lập ban kịch để biểu diễn vở “Người học vẽ”. Nhưng đầu năm 1938, Phạm Huy Thông sang Pháp du học với lời hẹn của Nguyễn Nhược Pháp: “Tôi chờ anh bốn năm nữa về làm việc”, nhưng lời hẹn ấy đã mãi mãi thành dang dở…

Trên ấn phẩm “Tiểu thuyết thứ Năm” số 8 ra ngày 24/11/1938 đã đăng trọn vẹn “Điếu văn Nguyễn Nhược Pháp” do nhà thơ Lưu Trọng Lư thay mặt anh em bạn văn làm và Nguyễn Mạnh Chất đã đọc hôm an táng Nguyễn Nhược Pháp với lời dẫn:

“Hà Nội đã mất một tài hoa. Văn chương đã mất một đứa con. Và chúng ta đã mất một người bạn: anh Nguyễn Nhược Pháp đã tạ thế hồi 7 giờ sáng ngày 19 Novembre 1938, tại nhà thương Lanessan, Hà Nội. 4 giờ chiều chủ nhật 20/11/1938, giờ và ngày chua xót cho lịch sử văn học của chúng ta, gia quyến anh Nguyễn Nhược Pháp cùng số đông bạn học và tất cả các nhà văn, nhà thơ có hay không được quen biết anh, đã theo xe tang anh trong một bầu không khí yên lặng, thương tâm và cảm động vô cùng. Anh đã được an táng ở Hợp Thiện, giữa tiếng khóc thầm của đủ mặt những văn sĩ và bạn anh…”.

Theo chia sẻ của gia đình, hiện nay mộ nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã được gia đình đưa về làng Phượng Dực, Phú Xuyên (nay thuộc Hà Nội), được xây chung trong khu mộ gia đình cùng với mộ cha là Nguyễn Văn Vĩnh và người anh Nguyễn Giang mà Nguyễn Nhược Pháp rất mực yêu thương, tôn kính.

Nguyệt Hà

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.