Nhà thơ Lê Đình Cánh: Văn chương chính là đời sống không phải là ngôn từ

Khi nhà thơ Lê Đình Cánh tốt nghiệp Khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm thì cũng là lúc chiến tranh lan ra cả miền Bắc. Hưởng ứng phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng”, từ năm 1965 đến 1969, ông được Bộ Giáo dục cử sang Trung ương Đoàn. Rồi từ Trung ương Đoàn, ông đương nhiên trở thành thanh niên xung phong thời chiến do Bộ tư lệnh tiền phương quản với nhiệm vụ chính: Dạy văn hóa phổ thông ở Tây Trường Sơn (địa bàn hoạt động chính ở Quảng Bình, Quảng Trị). 

Công việc của những nhà giáo – chiến sĩ thật vất vả, gian nan và đầy những trắc trở không lường hết được. Họ phải hoạt động đều theo địa bàn chiến trường và theo dấu chân người lính. Tuy mang tiếng là lực lượng dân - chính - đảng, không trực tiếp chiến đấu, nhưng họ vẫn được trang bị súng CKC và những quả lựu đạn.

Từng là lính đi B, lính chiến một thời gian trước 1975 nên tôi luôn có sự cảm thông, chia sẻ với Lê Đình Cánh. Tôi càng cảm thông và chia sẻ hơn khi nghe Lê Đình Cánh tâm sự: “Hồi ấy, chúng tôi luôn “đi không dấu, nấu không khói”, tất cả cứ là phải bí mật tuyệt đối. Và trong những cuộc chuyển quân âm thầm như thế, trong đầu chúng tôi luôn tâm niệm: Một là “xanh cỏ”, hai là “đỏ ngực”. “Xanh cỏ” chính là biểu hiện của sự hy sinh đến tận cùng. Còn “đỏ ngực” chính là biểu hiện của sự cống hiến (giành huy chương, huân chương chiến công), cũng đến tận cùng”.

Tất nhiên, đây không chỉ là tâm niệm của riêng Lê Đình Cánh và những đồng đội của ông, mà còn của cả một thế hệ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, là tâm thế của thanh niên thời đại lúc bấy giờ.

Nhà thơ Lê Đình Cánh và bìa một tập thơ của ông.
Nhà thơ Lê Đình Cánh và bìa một tập thơ của ông.

Vốn là người có chí, nên mặc dù trong những năm tháng hiểm nghèo như thế, hễ  lúc rảnh rỗi là Lê Đình Cánh vẫn âm thầm tự bồi bổ kiến thức, tự nâng cao kiến thức cho mình bằng cách tự học thêm chương trình trên đại học qua những cuốn giáo trình mà ông có ý thức mang theo khi tạm xa rời quê hương. Ông bảo: “Đấy là một cách tiết kiệm thời gian và đấy cũng là cách tự rèn luyện mình một cách nỗ lực nhất”.

 Cũng khoảng thời gian này, bản năng thơ, tâm hồn thơ đã trỗi dậy trong con người thơ Lê Đình Cánh. Ông đã say mê viết vài chục bài thơ đầu đời trong sổ tay của mình theo kiểu tự phát. Nhưng rồi có một ngày, cuốn sổ tay này cũng không thoát khỏi sự hủy hoại của “hòn tên mũi đạn”. Nó bị bom na pan thiêu rụi. Hậu quả này đã khiến Lê Đình Cánh tiếc ngẩn tiếc ngơ vài tháng liền. Ông bảo: “Chúng có thể là thơ hoặc chưa hoàn toàn là thơ. Chúng có thể chưa đạt được như mong muốn của tôi. Nhưng chúng là những kỷ niệm máu thịt một đi không trở lại của tôi”.

Nhưng trong cái rủi vẫn có cái may. Có một bài thơ trong cuốn sổ tay ấy đã được một người lính chép lại tự bao giờ và anh đã chuyền tay cho một số người lính khác cùng đọc. Rồi bản thảo bài thơ “Giọng hò Thanh Hóa” của Lê Đình Cánh đã đến được tay nhà thơ Mai Ngọc Thanh và lần đầu tiên, nó được đăng trên Tạp chí Xứ Thanh vào giữa năm 1968.

Vì là người có khả năng sáng tác nên sau khi rời thanh niên xung phong, Lê Đình Cánh trở thành biên tập viên văn học Nhà xuất bản Thanh niên (1969 – 1973), biên tập viên chương trình Tiếng thơ của Phòng Văn học - Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 1973 cho đến khi nghỉ hưu).

Tôi gặp Lê Đình Cánh lần đầu vào năm 1984, khi ông đang phụ trách Phòng Văn học thiếu nhi. Tôi nhận ra ông là người chân tình, cởi mở, dễ gần. Nhớ có lần tôi đọc cho ông nghe một đứa con tinh thần của mình mới viết mang tên “Đồ chơi – đồ thật”: “Con lợn kêu bính boong/ Con mèo kêu chút chít/ Lợn đâu phải là chuông?/ Mèo đâu phải là chuột?/ Nhưng đấy là đồ chơi/ Có phải đâu đồ thật/ Sao trong cuộc sống này/ Giữa bao nhiêu tất bật/ Mèo không kêu giọng chuột/ Lợn không ngân giọng chuông?”, vào chính lúc bài thơ đang bí ở câu kết, ông bất ngờ thêm cho tôi hai câu kết đủ để thâu tóm một tứ thơ: “Đồ chơi khác đồ thật!/ Đồ thật khác đồ chơi”.

Tôi gật gù và tâm phục, khẩu phục ông ngay. Còn con trai tôi là Đặng Chân Nhân, lúc 9 tuổi đã viết bài thơ “Cùng chơi”: “Cùng chơi cùng chơi/ Các bạn cùng chơi/ Chúng tôi cùng chơi/ Nếu bỏ một bạn/ Bạn ấy khóc nhè/ Phải làm thế nào/ Cho bạn ấy tươi?/ Tớ đã có cách/ Muốn bạn hết khóc/ Phải làm trò vui/ Cho bạn ấy cười/ Cuối cùng bạn ấy/ Cũng phải cười thôi/ Và bạn ấy cười/ Phải đến một phút”.

Đọc xong, ông nhận xét: “Thằng bé này khá! Với bất kỳ một cuộc vui nào, cũng không được phép để một người buồn. Một người buồn sẽ làm hỏng cuộc vui. Đây là một tứ thơ đáng chú ý”. Điều này cho thấy: Lê Đình Cánh tinh thông, chuyên nghiệp trong khâu biên tập, cảm nhận qua từng tác phẩm cụ thể và hay quan tâm đến bạn viết.

Cho dù gặp Lê Đình Cánh hơi muộn, nhưng trước đó, cũng giống như nhiều người yêu thơ, làm thơ… tôi đã biết bài thơ “Mẹ ra Hà Nội” trong chùm thơ đoạt giải nhì cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1976 của ông. Tôi nhớ nhất hai câu nói rất “trúng” cách hành xử của một bà lão lần đầu tiên từ nông thôn ra thành phố trong bài thơ này: “Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể gặp ai cũng chào”.

Tôi nhớ cả những câu thơ rất ấn tượng về tình yêu của Chí Phèo – Thị Nở trong “Trăng nở nụ cười” (giải ba cuộc thi thơ Báo Văn nghệ 1990): “Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên/ Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người/ Vườn suông trăng nở nụ cười/ Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau”. Cũng ở đề tài tình yêu, trong “Chợ tình”, ông viết: “Chợ tình xa mấy cũng đi/ Rơm khô tự cháy trước khi lửa kề/ Tình yêu như thể chơi đề/ Đợi con độc đắc lại về trắng tay”.

Ông bảo: “Người làm thơ phải là người hết sức bình tĩnh. Khi viết thì cứ viết hết mình, đừng nên nghĩ ngay đến việc bài thơ sẽ đăng ở báo nào và viết như thế này, liệu có báo nào chấp nhận không? Người viết cũng không nên viết những gì ở ngoài mình, hãy cứ đúng mình mà viết. Tôi từng có hai bài thơ “Quán Sứ bên này” và “Phố Hỏa Lò” rất khó đăng.

Phải sau nhiều năm, Báo Độc lập (tờ báo của Đảng Dân chủ, tồn tại một thời gian dài trước thời Đổi mới) do nhà thơ Ngô Quân Miện làm Tổng biên tập mới mạnh dạn ô kê”. Bài thơ có 4 câu mở: “Chùa Quán Sứ. Bệnh viện K/ Nằm kề hai phía nhà pha Hỏa Lò/ Nơi vô lo. Chốn đang lo/ Các nơi thiện ác giằng co con người” và một câu kết rất đáng nhớ đến day dứt dưới hình thức một câu hỏi: “Còn tôi, Quán Sứ bên này/ Nhìn sao thấu bức tường dày bên kia?”.

Trong bài “Phố Hỏa Lò”, ông viết: “Thủ đô có phố Hỏa Lò/ Ai xui kiếp vạc thân cò đến đây/ Bịt bùng bốn phía tường vây/ Âm âm vị đất, ngây ngây vị trời”.

Có thể nói, Lê Đình Cánh là người vừa sở đắc vừa sở trường thể thơ lục - bát truyền thống. Nhưng thơ lục - bát của Lê Đình Cánh thường chọn góc khuất và những vấn đề gai góc của cuộc sống và triển khai theo cách viết của mình. Không giống một số nhà thơ khác, ông không làm mất cá tính của mình ở thể thơ khó viết và khó tính này.

Ông bảo: “Nói chung, thể thơ này đã được giải quyết rất triệt để trong ca dao và trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Viết theo hướng “Thác là thể phách, còn là tinh anh” và viết như thế có ma hiện về mà không cần phải miêu tả gì nhiều, thì có ai thần tình hơn cụ Nguyễn Du nhà ta: “Một lời nói chẳng kịp thưa/ Phút đâu ngọn gió cuốn cờ đến ngay/ Ào ào đổ lộc rung cây/ Ở trong dường có hương bay ít nhiều/ Đè chừng ngọn cỏ lần theo/ Dấu giày từng bước in rêu rành rành”…

Sau những câu lục - bát trên, ông còn nhớ cả những câu thơ lục - bát của Nguyễn Bính, Ngô Quân Miện, Nguyễn Duy, Vương Trọng… Rồi ông đọc hai câu của Ngô Quân Miện như thể nằm lòng nơi ông tự bao giờ: “Chiều rơi lác đác tâm tư/ Rét như đang rét, buồn như đang buồn”.

Ông nói: “Tôi tên khai sinh đầy đủ là Lê Đình Cát Cánh. Vì là lương y có bằng hành nghề toàn khu vực Trung bộ, nên bố tôi mới đặt tên tôi như vậy. Cát Cánh là tên một loại cây thuốc quý, lá như lá hài vệ nữ, hoa có màu tím như hoa cà có hương thơm, củ như củ cải. Đây là một vị thuốc để chữa trị ung nhọt dạng nội u (u bên trong cơ thể).

Ấy vậy mà oái oăn thay, đã 4 năm nay, tôi phải đối mặt và sống chung với căn bệnh quái ác ung thư gan!- Ông nói thêm - Tôi sinh ra không phải để làm thi sĩ. Cuộc sống là như vậy và tôi chỉ làm mỗi cái việc gom nhặt thơ từ đời sống. Ngay từ hồi còn ở chiến trường Quảng Trị, khi đất nước còn bị chia cắt, từ việc quan sát thực tế thôi mà tôi đã viết: “Quê tôi trăng vụn cổ thành/ Đất nung quá nửa vá lành nghĩa trang/ Bàn thờ hai ngả khăn tang/ Nửa đèn hương dạ, nửa nhang khói mờ”.

Đến giờ, tôi cũng mừng vì con trai và con gái tôi đều yêu văn học, đã dịch cả chục tác phẩm văn học từ tiếng Anh và tiếng Pháp sang tiếng Việt. Như vậy, nghề viết của tôi có cơ may không bị thất truyền”.

Nghe ông tâm sự, tôi chợt liên hệ đến câu nói nổi tiếng và sâu sắc lúc sinh thời của Krishnamurti – nhà diễn thuyết thông thái về các vấn đề triết học và tinh thần người Ấn Độ: “Văn chương chính là đời sống, không phải ngôn từ”.

Ngọc Trân

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.