Nhà thơ Lê Đạt qua câu chuyện của người con gái

Tôi thường gặp nhà biên kịch Đào Phương Liên mỗi khi Hội Điện ảnh Hà Nội tổ chức tọa đàm hay đi trại sáng tác. Thú thực, mỗi khi gặp và quen một ai đó, tôi chẳng bao giờ hỏi: “Bố chị là ai?” hay “Mẹ chị tên là gì?”. Bởi vậy, khi được biết nhà biên kịch Đào Phương Liên là con gái thứ hai của nhà thơ Lê Đạt, tôi không khỏi ngỡ ngàng.

Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh năm 1929, quê gốc ở thôn Á Lữ, một thôn nhỏ “bên kia” sông Thương, nay là tổ dân phố Á Lữ, phường Trần Phú, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Vốn quê gốc là thế nhưng ông lại sinh ra và lớn lên ở Yên Bái, gần bến Âu Lâu, một bến sông nổi tiếng thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

2.jpg -1
Giây phút nhà thơ Lê Đạt đi tìm “bóng chữ”.

Năm 12 tuổi, nhà thơ Lê Đạt được gia đình cho về Hà Nội, theo học Trường Bưởi (Trường THPT Chu Văn An hiện nay). Cậu thiếu niên quê Bắc Giang, sinh ra ở Yên Bái và theo học ở Hà Nội ấy dường như được “tận hưởng” những giá trị văn hóa “đa vùng miền” nên ngay từ nhỏ đã tỏ ra có năng khiếu thơ ca.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, như bao trí thức yêu nước khác, ông Đạt hào hứng tham gia cách mạng: “Tôi đi kháng chiến, chủ yếu hoạt động trong ngành tuyên huấn. Năm 1949, tôi về công tác tại Ban Tuyên huấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1952, tôi chuyển hẳn về Hội Văn nghệ Việt Nam và bắt đầu cuộc đời sáng tác của nhà văn chuyên nghiệp” (Trích tiểu sử nhà thơ Lê Đạt).

Trong kháng chiến, ông Đào Công Đạt làm công tác tuyên huấn và hình như bút danh Lê Đạt xuất hiện trên văn đàn từ những ngày tháng đó! Tôi hỏi nhà biên kịch Đào Phương Liên: “Chị có biết gì về bút danh Lê Đạt?”.

Nhà biên kịch Đào Phương Liên lắc đầu, chị sinh năm 1959 (đúng vào cái năm trường ca “Cửa hàng Lê Đạt” ra đời và sau đó sóng gió đến với cuộc đời văn nghiệp của Lê Đạt khi ông bị tước danh hiệu hội viên Hội Nhà văn Việt Nam trong vụ Nhân văn - Giai phẩm, nên dĩ nhiên cô bé Đào Phương Liên chẳng hiểu câu chuyện “đấu tranh chống Nhân văn - Giai phẩm” là như thế nào.

Thuở đi học, cô trò nhỏ Đào Phương Liên không hề biết và cũng không tin bố mình là nhà thơ Lê Đạt chỉ bởi một suy nghĩ đơn giản mình họ Đào thì bố cũng phải họ Đào và ông đã nói không có bút danh khi con gái khai lý lịch, dù đôi khi có người hỏi thăm hoặc xa xôi nhắc tới vì trong nhà đến một cuốn sách, một tờ báo cũng không có.

Thậm chí, cho đến tận năm 1975, nghe bạn bè xì xào về trường ca “Cửa hàng Lê Đạt” “vướng” gì đó với “chiến dịch” cải tạo công thương ở Hà Nội, cô bé ngẩn ngơ đứng ngắm tấm biển ghi mã số cửa hàng 9 Lãn Ông nhà mình và vẫn không thể liên tưởng được ông bố hiền lành rất nông dân, cười to nói to của mình với ông nhà thơ có “vấn đề” về tư tưởng kia!

Nhà thơ Lê Đạt hay Đào Công Đạt lấy người vợ đầu hồi ông tham gia cải cách ruộng đất. Bà tên Nguyện, một phụ nữ đầy nhiệt tình với cách mạng và là cán bộ cốt cán của phong trào cải cách ruộng đất. Bà Nguyện, theo lời kể của người bà con bên nhà biên kịch Đào Phương Liên, thì đó là một “cô gái chân quê” đậm nét với răng nhuộm đen, đầu vấn khăn. Về sống giữa Thủ đô hoa lệ nên “vẻ quê” của bà Nguyện dường như không thích hợp và khó hòa đồng với họ hàng gia đình nhà chồng. Có lẽ, vì thế nên bà Nguyện đã chủ động chia tay với nhà thơ Lê Đạt sau thời gian rất ngắn chung sống.

Cuộc chia tay của đôi vợ chồng vốn rất bình thường nhưng dạo đó lại gây sóng gió bởi có nhiều người cho rằng nhà thơ Lê Đạt “ruồng rẫy cô vợ quê mùa”. Ông bị “chụp mũ” về chuyện đó rất nhiều, trong cơ quan và trong các “cuộc họp”, nhà biên kịch Đào Phương Liên kể: “Chuyện bố tôi lấy mẹ tôi là diễn viên Thúy Thúy (Nguyễn Thị Thúy), cũng bị coi là “có vấn đề”, là vi phạm đạo đức vì họ cho rằng bố tôi “mê sắc bỏ bần”.

1.jpg -0
Gia đình nhà thơ Lê Đạt. Thứ hai, từ trái sang là nhà biên kịch Đào Phương Liên thời trẻ.

Thế là chuyện tưởng nhỏ lại trở thành trầm trọng. Nhất là khi bài thơ “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” đăng trên Báo Nhân dân số 822 của ông đã gây sóng gió suốt thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm, bài thơ có thể hiểu là sức phản kháng mãnh liệt của nhà thơ đối với chế độ phong kiến ấu trĩ, ngăn cấm tự do luyến ái, can thiệp vào đời tư của con người, khởi đi từ những sự kiện có thật trong đời Lê Đạt. Rồi đến bài thơ “Ông bình vôi” của Lê Đạt ra đời với những câu thơ: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi/ Y như một cái bình vôi/ Càng sống càng tồi/ Càng sống càng bé lại” thì quả là “tai ương” lớn, bởi người ta suy diễn này nọ.

Nhà biên kịch Đào Phương Liên kể: “Bố tôi sống rất đơn giản và chất phác, nhất là hay cười to. Điều đó khiến tôi không thể tin bố tôi là một nhà thơ nổi tiếng, không thể tin bố tôi là một người có vấn đề. Vả lại, lúc đó tôi cũng chưa hề được đọc câu thơ nào của bố”. Chị Liên cười: “Sự hồn nhiên của ông trong cuộc sống khiến tôi không tin những điều người ta phán xét ông! Và, có đến chục thầy cô là người cùng phố rồi bạn bè bố luôn nhắc tôi phải kính trọng yêu mến bố vì ông là người tử tế, tốt lắm, giỏi lắm”.

Thuở ban đầu vợ con nhà thơ Lê Đạt chỗ ở không có, chị Liên cho hay: “Mẹ tôi phải bế con ở nhờ nay nhà người này mai nhà người khác, nhiều nhất là ở nhờ nhà bác Trần Dần. Những đêm con quấy khóc, sợ ảnh hưởng đến gia đình mình ở nhờ, mẹ tôi thường bế con ra đường để dỗ. Chính những đêm ngoài phố đó, mẹ tôi tình cờ gặp được một chú bộ đội trẻ. Nghe chuyện nên chú ấy rất cảm thông, giao chìa khóa ngôi nhà bỏ không của mình cho mẹ tôi.

Sau đó, bà nội bảo mẹ tôi dọn đến ở số 9 phố Lãn Ông, một căn nhà bỏ hoang đã 10 năm để giữ nhà cho người bạn của bà vì sợ bị thu khi cải tạo. Nhưng, cũng chỉ có mấy mẹ con tôi, mãi sau bố mới về sum họp cùng gia đình. Hiện mẹ tôi vẫn sống ở đó, chị em chúng tôi hằng ngày qua lại chăm lo đỡ đần mẹ”.

Cho mãi đến năm Đổi mới thì cô con gái Đào Phương Liên mới chính thức được biết cha mình, ông Đào Công Đạt là nhà thơ Lê Đạt. Chị Liên bảo: “Năm 1989, khi tôi sinh con gái đầu lòng, thấy con quấy khóc mà tôi chẳng biết cách nào dỗ con nín khóc và ru cho con ngủ. Tôi vốn thích thơ Nguyễn Bính nên tìm mua thơ Nguyễn Bính rồi ê a ngâm ru con ngủ. Bố tôi tình cờ ngang qua nghe thấy thì nói: “Bố cũng là bạn của nhà thơ Nguyễn Bính đấy”. Tôi hơi bất ngờ vì xưa nay có thấy bố tôi đọc thơ bao giờ đâu. Tôi đã nghĩ: Chắc bố nói vậy cho vui thôi”.

Khi bố mình được phục hồi hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Đào Phương Liên đã hỏi bố: “Chắc ngày xưa bố cũng phải có gì sai sai thì giờ mới được “phục hồi” chứ?”. Nhà thơ Lê Đạt cười hóm hỉnh: “Có lẽ người ta phục hồi nhầm”. Chị Liên nghe bố nói vậy cũng chẳng hiểu “nhầm” ở câu nói của bố là “nhầm” cái gì.

Phải đến năm 1994, khi tập thơ “Bóng chữ” của nhà thơ Lê Đạt được xuất bản, cùng với các tác phẩm khác của các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm thì chị mới thực sự tin bố mình là nhà thơ.

Chị Liên bảo: “Bố tôi đã quyết định công bố các tác phẩm của mình, đó là những suy ngẫm, tìm tòi, trải nghiệm được bố tôi viết trong thời gian bị “treo bút”. Lúc này, tôi mới biết là bố tôi vẫn “âm thầm” viết và đó đều là những tác phẩm “cách tân” thơ, điều mà bố tôi theo đuổi từ năm bố tôi mới 20 tuổi”.

Ông đã viết: “Chia xa rồi anh mới thấy em/ Như một thời thơ thiếu nhỏ/ Em về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa, mây mấy độ thu/ Vườn thức một mùi hoa đi vắng/ Em vẫn đây mà em ở đâu/ Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu”. (bài thơ “Bóng chữ” này đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành bài hát cùng tên).

“Năm 2007 nhà thơ Lê Đạt được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cùng với Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, thì lúc đó bố tôi đã già rồi. Nhưng, cũng may, trước khi ông mất, danh hiệu Giải thưởng Nhà nước là món quà ông kịp nhận. Năm 2008 bố tôi mất, tôi tin ông thanh thản sau tất cả những sóng gió văn nghiệp”.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.