Nhà thơ kin tiếng và "sức mạnh mềm"

Những năm học phổ thông ở quê, thầy giáo dạy văn chúng tôi là nhà thơ Hà Quảng có đọc cho tôi nghe hai câu thơ mà đến nay tôi vẫn thuộc lòng: "Anh đến với em đêm thần tiên ấy / trăng với đèn chếnh choáng hơi men". 

Mãi sau này tôi mới biết đó là hai câu thơ trong bài thơ nổi tiếng một thời của nhà thơ - Giáo sư Lê Trí Viễn, người thầy giáo chuyên soạn sách giáo khoa cho chúng tôi học, một nhà thơ mà theo nhiều người là rất "kín tiếng".

Còn nhớ, cuối những năm bảy mươi của thế kỷ trước, vào những tối chủ nhật, tôi thường đạp xe từ trụ sở báo Tiền Phong, nơi tôi vẫn thường ngủ trên bàn làm việc… vào khu ký túc xá của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với những người bạn yêu văn chương như cố nhà thơ Trần Hòa Bình, ca sỹ Quỳnh Liên và Lê Lưu Oanh, con gái GS Lê Trí Viễn - nhà thơ "kín tiếng" như tôi vừa nói ở trên.

Gia đình Giáo sư - nhà thơ Lê Trí Viến.
Gia đình Giáo sư - nhà thơ Lê Trí Viến.

Đi loanh quanh dọc con đường tràn ngập ánh trăng trong khu nhà ở, chúng tôi đọc thơ hay nghe Quỳnh Liên hát. Những bài hát dân ca ngọt ngào như tình bạn trong sáng của một thời mà con người thực sự trong sáng, hồn nhiên…

Khi GS Lê Trí Viễn chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh, có vài lần tôi đến thăm gia đình ông. Và, hình ảnh ông, một nhà giáo điềm đạm, một nhà thơ "kín tiếng" với nụ cười rất hiền, giọng nói nhỏ nhẹ, đôi mắt thông minh ẩn chứa những cố gắng phi thường của người con xứ Quảng đã tự học mà thành một nhà văn hóa uyên bác, và  để lại những câu thơ hay, cũng là "người thầy của những người thầy" như báo chí vẫn thường viết về ông.

 Cố GS Lê Trí Viễn không những là một nhà văn hóa uyên thâm, một người thầy mẫu mực, mà ông cũng là người chồng, người cha rất mẫu mực trong gia đình.

Lê Lưu Oanh nói rằng điều mà GS dạy các con là dạy "nếp nhà", dạy cách thức làm người có nề nếp trong một gia đình gia giáo. Từ dáng đi, dáng đứng, cách ngồi, lúc ăn, lúc ngủ … "Ba dạy chúng em sáng nào ngủ dậy cũng vào chào ba mẹ và hỏi: Ba mẹ đêm qua có ngủ ngon không? Năm em 16 tuổi rồi mà ba còn dạy cách đi. Nhiều lần ba đi sau em và bảo: "Con đi xấu lắm, phải đi như thế này này… đi khoan thai, đầu ngẩng cao, dáng người ngay ngắn"… Ba chỉ hàng gạch ở vỉa hè và bảo em nhìn từng viên gạch mà đi. Có lúc ba còn để lên đầu em một xấp giấy như người Chăm để cái bình trên đầu khi đi lấy nước, em phải tập đi sao cho xấp giấy trên đầu không rơi xuống… Ba dạy chúng em sắp xếp sách vở, ghế bàn, mọi thứ trong phòng học, trong nhà ngăn nắp, sạch sẽ… Cẩn thận, chi tiết như vậy nhưng chưa bao giờ ba quát mắng hay to tiếng, luôn nhỏ nhẹ chỉ bảo từng li từng tý…" -  Lê Lưu Oanh kể.

Tôi đọc bài viết "Cổ văn Việt Nam" của GS Lê Trí Viễn trong cuốn "Người và nghề - Nhà xuất bản Hội nhà văn" và cảm thấy rất rõ quan niệm nhất quán của ông về sức mạnh MỀM của người phương Đông, của con người Việt Nam. Ông cho rằng "Bên cạnh cái dũng khí cầm gươm đứng lên, cũng có cái dũng khí "hiền lành" hơn của kẻ: giầu sang không khiến ham, nghèo hèn không khiến cho đổi chí, uy vũ không sao khuất phục, trọn đời sắt son với đạo đức, với chính nghĩa, với nước, với dân…". Cái nghĩa khí tưởng như "hiền lành" đó thực ra là sức mạnh to lớn của "kẻ sỹ" vốn được văn học cổ Việt Nam chuyển tải sâu sắc. Tôi cảm thấy hình như suốt cuộc đời GS đã sống, đã làm việc, đã dạy các con, dạy các thế hệ học trò cái đạo lý giản dị đó.

Lê Lưu Oanh kể rằng chính GS Lê Trí Viễn đã dịch ra tiếng Việt và chép lại cuốn "Tam tự kinh" để dạy các con. Ông giảng cho các con thế nào là "Thỏa chí tang bồng", ông phân câu, chiết tự, lấy ví dụ rất cụ thể để các con ông có thể hình dung … Cả những bài thơ nổi tiếng như "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu ông cũng dạy các con về ý nghĩa cũng như các điển tích trong đó. Ông không những dạy chữ, dạy cách sống, dạy các con làm người mà còn nêu tấm gương sáng về lối sống giản dị, liêm khiết, cần cù, chịu khó trong mọi công việc hàng ngày.

"Dạo nhà trường sơ tán về Yên Mỹ (Hưng Yên) ba cùng các con và những học trò của ba giúp dân đập lúa, hò hát rất vui. Ba còn đưa chúng em đi kiếm củi về nhóm bếp, nấu cơm, dạy chúng em làm mứt bằng cà rốt… Khi các thầy ra đề tài về tập làm văn, em đã nghe lời ba, tả nhà B3 của khu tập thể Đại học Sư phạm… bài văn được các thầy rất thích… Em cảm thấy mình thật hạnh phúc vì được sống trong một gia đình hòa thuận, kính trên nhường dưới, biết  yêu thương, đùm bọc bọc lẫn nhau…" - Lê Lưu Oanh tâm sự.

Cố GS Lê Trí Viễn sinh năm 1918 tại Điện Bàn (Quảng Nam) trong gia đình một nhà nho nghèo. Ba ông, cụ Lê Du, biết chữ Hán và là một người yêu văn chương. Chính GS Lê Trí Viễn đã dịch một số bài thơ của cụ ra tiếng Việt để lại cho con cháu sau này. Năm 1939, Lê Trí Viễn tốt nghiệp sư phạm cấp 1, dạy tiểu học trong 5 năm.

Vợ chồng Giáo sư nhà thơ Lê Trí Viễn hồi trẻ.
Vợ chồng Giáo sư nhà thơ Lê Trí Viễn hồi trẻ.

Thời gian này ông tự học và thi đỗ tú tài phần 1, năm 1945 ông đỗ tú tài toàn phần, chuyển sang dạy học phổ thông và chuyên khoa ở Trường Khải Định (Huế). Từ năm 1946, ông tham gia kháng chiến, sau đó dạy ở Trường Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng (Hà Tĩnh), rồi làm hiệu trưởng Trường cấp 3 Lê Khiết (Quảng Ngãi). Năm 1955 về làm việc ở Ban tu thư (viết sách giáo khoa phổ thông) Bộ Giáo dục, và cùng nhóm Lê Quý Đôn viết lịch sử văn học và dịch thuật. Năm 1958 ông về giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội và là Chủ nhiệm Khoa Văn năm 1963. Từ năm 1978 chuyển vào dạy ở Khoa Văn Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh.

Tụi đọc cuốn "Một lối tài hoa qua muôn nẻo lối đời" của Nhà xuất bản Đà Nẵng do Lê Lưu Oanh tặng gồm nhiều bài viết về ông đều khẳng định về nhân cách, về sự uyên bác của một người trọn vẹn 75 năm làm nghề dạy học. Đó là người thầy "tinh tế và tài hoa" như PGS. TS Trần Hữu Tá đã nói. Ông là người thiên về sống nội tâm, thường tìm đến với thơ ca với những câu thơ ông làm đôi khi cũng rất tài hoa: "Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng / Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn nhỏ ngọn đèn / Anh đến với em đêm thần tiên ấy / Trăng với đèn chếnh choáng hơi men".

 Cố GS Lê Trí Viễn là nhà giáo nhân dân, được giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012. Ông thọ 95 tuổi và để lại nhiều công trình khoa học do chính ông biên tập, sưu tầm và dịch thuật. Ông là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam tham gia soạn sách giáo khoa phổ thông dưới chế độ mới. Vợ ông, bà Dương Ngọc Diệp sinh năm 1929, nhiều năm là bác sỹ, làm việc ở Bệnh viện Hữu Nghị.

Ông có bốn người con: Lê Hoài Tiên sinh năm 1942, tốt nghiệp  Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, từng làm việc ở Bộ Ngoại giao; Lê Phi Thúy sinh năm 1954, học đại học ở Hungary, là tiến sỹ hóa học, hiện làm Hiệu phó Trường THCS và THPT Nguyễn Khuyến, TP Hồ Chí Minh; Lê Lưu Oanh sinh năm 1956, Phó GS.TS, Nhà giáo ưu tú, hiện là cán bộ giảng dạy Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội và Lê Hoa Quy sinh năm 1961, kỹ sư điện tử, nguyên Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Việt (Vitek). GS Lê Trí Viễn có 5 cháu, trong đó có 3 cháu là thạc sỹ.

Lý thuyết "Sức mạnh mềm" hiện đang được nhiều chính khách nổi tiếng trên thế giới thực hiện và tôi thiển nghĩ ở nước ta hiện nay, do nhiều yếu tố của cuộc sống hiện đại đang có nguy cơ phá vỡ "nếp nhà"… bởi vậy, bài học dạy con sống có nề nếp, sống theo "nếp nhà", nếp sống văn hóa, biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, biết kính trên nhường dưới của nhà văn hóa, nhà thơ, cố GS NGND Lê Trí Viễn thật có ý nghĩa.

        Nhà vườn Sóc Sơn 2016.

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.