Kỷ niệm 80 năm thành lập lực lượng Quân đội nhân dân (22/12/1944 – 22/12/2024)

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Những cấu trúc sáng tạo khi viết trường ca

Trong các thể loại thơ, khó nhất là viết trường ca và đấy là thử thách lớn ngay với cả những nhà thơ tài năng. Thơ đương đại Việt Nam có những tên tuổi nổi tiếng về viết trường ca như: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Thi Hoàng, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu… Được biết, nhà thơ Hữu Thỉnh đã dành 14 năm (từ năm 1981 đến 1994) để viết “Trường ca Biển”, một trong những bản giao - hưởng - thơ khá đồ sộ trong gia tài thi ca của ông cũng như nền văn học đất nước.

Chủ nghĩa yêu nước vẫn là chủ đề tư tưởng chính được chuyển tải trong “Trường ca Biển”, để đưa tác phẩm này trở thành một khúc tráng ca lớn về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Trước đó, ông đã nổi tiếng với 2 tập trường ca “Sức bền của đất” và “Đường tới thành phố” viết về chiến tranh và người lính được trao giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam.

Cấu trúc nghệ thuật trường ca theo trục dọc và trục ngang

Có thể nói, cả ba trường ca nói trên đều giống nhau về chủ đề tư tưởng là ca ngợi chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, đó là sự hy sinh dũng cảm, kiên cường, bất khuất của cả một dân tộc quyết giành độc lập, tự do. Ở hai trường ca “Sức bền của đất” và “Đường tới thành phố”, đặc biệt nổi lên ba hình tượng: một là người chiến sĩ chiến đấu ở chiến trường, xông pha lửa đạn, đạp qua mọi khó khăn, thử thách; hai là những bà mẹ ở hậu phương; ba là những người vợ chờ chồng. Ba nhân vật này tạo nên một sợi dây xuyên suốt giữa hậu phương và tiền tuyến, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân.

Nhưng đến “Trường ca Biển” đã có một bước phát triển mới. Nếu như ở trường ca “Sức bền của đất” lấy sức mạnh văn hóa của dân tộc làm một nội lực tinh thần cho cuộc chiến đấu mới, thì ở trường ca “Đường tới thành phố” là sức mạnh tổng hợp của nhân dân dồn vào cuộc chiến đấu trên mặt đất trong chiến dịch Hồ Chí Minh thống nhất đất nước. Còn ở “Trường ca Biển” lại là cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ quyết liệt để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Việt Nam. Như thế có nghĩa là “Sức bền của đất”, “Đường tới thành phố” là chủ nghĩa yêu nước trong quá trình giải phóng dân tộc, còn “Trường ca Biển” là chủ nghĩa yêu nước huy động sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta để bảo vệ Tổ quốc.

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Những cấu trúc sáng tạo khi viết trường ca -0
Nhà thơ Hữu Thỉnh.

Trong một lần trao đổi với tôi về hình tượng nghệ thuật, thủ pháp nghệ thuật của “Trường ca Biển” có cấu trúc gì mới, thi pháp gì mới, có gì thay đổi so với (cấu trúc hình tượng nghệ thuật của hai trường ca “Sức bền của đất” và “Đường tới thành phố” ) trước đây, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết:

“Hai trường ca trước là chủ nghĩa yêu nước trong chiến tranh, còn “Trường ca Biển” là chủ nghĩa yêu nước trong thời bình. Từ chủ đề tư tưởng ấy, cấu trúc của các trường ca có khác nhau. Cấu trúc của trường ca “Đường tới thành phố” bám rất sát tiến trình, sự kiện của chiến dịch Hồ Chí Minh, lấy sự phát triển của lịch sử làm điểm tựa nghệ thuật của thi ca, đương nhiên ở đấy có rất nhiều phát triển nhưng vẫn lấy trục chính là chiến dịch Hồ Chí Minh từ khi mở đầu đến khi kết thúc với nhiều nhân vật trữ tình nhưng vẫn dựa chính vào các sự kiện có thật trong lịch sử. Tôi gọi đây là cấu trúc dọc. Còn cấu trúc nghệ thuật trong “Trường ca Biển” là cấu trúc ngang, là một thời gian hiện tại trên bình diện chung, nó không có sự kiện cụ thể nào cả, nó là cuộc chiến đấu đồng thời diễn ra ở đảo, ở đất liền, ở trong những cơn bão ở Trường Sa đồng thời là cuộc tiếp sức của cả đất liền hướng ra đảo. Vậy là từ trục dọc trong chiến tranh chuyển sang trục ngang trong hòa bình”.

Trong 2 trường ca “Sức bền của đất” và “Đường tới thành phố”, tác giả đã xác định sự kiện giải phóng dân tộc dù khó khăn, ác liệt, gian khổ đến đâu chăng nữa cũng đến lúc kết thúc, có thể 10 năm, 20 năm nhưng cũng kết thúc vẻ vang như chúng ta đã biết. Nhưng cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta trên biển Đông không bao giờ kết thúc, nó diễn biến suốt đời này sang đời khác, nối tiếp nhau hàng ngàn năm đồng thời với sự tồn tại, phát triển và bảo vệ đất nước. Đấy là cái khác biệt và quan trọng nhất mà nhà thơ đã khai thác thành chủ đề tư tưởng chỉ đạo trong “Trường ca Biển”.

Từ cảm hứng sử thi đến cảm hứng trữ tình

Nói về nghệ thuật riêng trong mỗi trường ca và sự nối tiếp trong việc cấu trúc các trường ca của mình, nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng: “Có nhiều bài viết về trường ca của tôi nhưng các bạn tôi chưa chú ý đến chi tiết này, trong trường ca “Đường tới thành phố” khi vào tới Sài Gòn, phần kết phải là thời điểm ta cắm ngọn cờ Tổ quốc trên nóc Dinh Độc lập nhưng tôi đã kết ở chỗ dành 100 câu thơ vĩ thanh viết về đoàn tàu hải quân của chúng ta chia thành nhiều nhánh nhiều mũi đi giải phóng các tuyến đảo, và cuộc chiến đấu giải phóng các đảo ở Trường Sa là chiến thắng trọn vẹn nhất.

Như vậy tập trường ca “Đường tới thành phố” kết thúc ở TP Hồ Chí Minh nhưng lại mở ra một giai đoạn mới bảo vệ biển đảo của Tổ quốc và “Trường ca Biển” là sự tiếp nối cái phần kết của trường ca “Đường tới thành phố”. Tuy có tiếp nối, nhưng “Trường ca Biển” là cuộc chiến đấu trên biển với một kinh nghiệm khác, một chiến trường khác, một đối tượng khác, một điều kiện khác.

Nếu như chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng ta chứng kiến 5 cánh quân trở về hùng dũng, trùng điệp, khí phách ngất trời thì cuộc chiến đấu trên tuyến đảo Trường Sa, trên những hòn đảo nhỏ có khi chỉ một tốp 5-7 chiến sĩ thôi trong gió bão, thử thách từng ngày một, chiến dịch của họ không bao giờ kết thúc, ngày nào cũng là ngày chuẩn bị chiến dịch, ngày nào cũng là ngày hòa bình.

Nếu trên “Đường tới thành phố” là động thì “Trường ca Biển” vừa động vừa tĩnh, vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, vừa sống một cuộc sống bình thường vừa sống một cuộc sống khác thường, do đó giọng thơ ở đây khác theo nhịp của cuộc chiến đấu”.

Có thể nói, về nghệ thuật thì “Sức bền của đất” và “Đường tới thành phố” lấy yếu tố sử thi, nhân vật sử thi làm cốt lõi, còn cái giọng thơ trong “Trường ca Biển” là cảm hứng trữ tình và tác giả đã nhập vào người lính, nhập vào cây cỏ, nhập vào cát, vào nước, nhập vào từng chuyến tàu đi tiếp sức cho Trường Sa, nghĩa là nhân vật nhà thơ trữ tình ở đây đã hòa vào chủ thể là người lính và khung cảnh ở biển Đông. Nó có lúc là một cơn bão, nó có lúc là một người lính vượt qua bão trở về với đảo với đồng đội, khi đó giọng nhà thơ ở đây đã được hòa nhuyễn và chủ thể sáng tạo hài hòa với khách thể sáng tạo, chủ thể thẩm mỹ hòa vào khách thể thẩm mỹ, nó tạo nên một ấn tượng trữ tình vừa tâm tình vừa mang tính tráng ca.

“Cho nên “Trường ca Biển” có khi rất hoành tráng, rất hào khí nhưng cũng có lúc day dứt, lắng sâu, nó âm thầm thử thách người lính đặc biệt là chương bão biển và chương kết thúc. Đấy là một sáng tạo mới và tôi phải mất đến hơn 10 năm để suy nghĩ, tìm ra cấu trúc này. Giọng thơ thì vẫn giống nhau, cách viết thì vẫn giống nhau nhưng đối tượng đã khác rồi nên mình phải thay đổi nhịp điệu, thay đổi cảm xúc như thế nào và đi thực tế nhiều tuyến đảo ở trong nước để lấy thực tiễn.

Điều quan trọng không phải để mô tả cuộc chiến đấu bảo vệ hải đảo, bảo vệ biển Đông mà để tìm hiểu tâm hồn, tình cảm của người lính, họ đang đối diện với cái gì, đối diện với thử thách ra sao. Điều này thể hiện trong “Trường ca Biển” rất rõ, có lúc họ là một đội hình, có lúc chỉ là một con người bơi thoi thóp trên biển để trở về với hòn đảo của mình trong một cơn bão biển, một người đo biển, đo người trong sóng, đo sức mạnh của bản thân, cưỡi lên bão táp trong cuộc chiến đấu, đọ sức một mình với biển khơi để trở về chỗ đứng của mình. Đấy là những nét tôi gửi gắm trong “Trường ca Biển””, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết thêm.

Có thể nói, nét nổi trội trong thơ Hữu Thỉnh chính là những cuộc đối thoại rất sinh động, mang màu sắc triết lý của nhà thơ với thiên nhiên, với cuộc sống, với con người, với tình yêu và cụ thể trong “Trường ca Biển” là cuộc đối thoại với biển, với những người lính đang trụ vững ở quần đảo bão tố Trường Sa. Trong “Trường ca Biển” có các cuộc đối thoại giữa cái chung và cái riêng, cuộc đối thoại giữa nhiệm vụ và thử thách, cuộc đối thoại ngay trong người lính giữa hy sinh, hạnh phúc và cống hiến; cuộc đối thoại giữa người lính với gia đình ở hậu phương lớn. Những cuộc đối thoại ấy luôn luôn diễn ra trong trường ca này với những số phận riêng, với những thử thách riêng để vượt lên mọi khó khăn, gian lao trong sứ mệnh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.