Nhà thơ Hữu Thỉnh: Con chọn thứ vũ khí này bênh vực mẹ

Trong hành trình thi ca của mình, có nhiều nhà thơ đã có những tứ thơ  rất độc đáo, thấm đẫm sự xót thương và cảm động sau khi người mẹ qua đời. Lại có một số nhà thơ may mắn có được những bài thơ tuyệt bút viết về mẹ khi người còn sống và còn đọc được bài thơ của con viết về mình. Nhà thơ Hữu Thỉnh là một trong số những người may mắn đó.

Cách đây hơn ba chục năm, bài thơ "Ngôi nhà của mẹ" của nhà thơ Hữu Thỉnh đã được dư luận và độc giả đánh giá cao về sự sâu sắc và tính nhân văn. Ở bài thơ này, nhà thơ bắt đầu bằng giọng thủ thỉ, tâm tình để kể chuyện một người lính về quê thăm mẹ, thăm lại ngôi nhà cũ kỹ thân thuộc của cha mẹ với biết bao kỷ niệm êm đềm, buồn vui từ thủa thiếu thời nghèo khó lớn lên trong chiến tranh:

Chiếc vé tàu cũng hồi hộp như con
khi con về thăm mẹ
con lại ngồi vào chiếc chõng tre xưa
nơi mẹ vẫn ngồi khâu cha thường chẻ lạt
bao xa cách lấp bằng trong chốc lát
trăm cánh rừng về dưới giọt ranh thưa
xin mẹ lại cho con bắt đầu đi gánh nước
gánh bao nhiêu trong mát để dành
xin mẹ lại cho con nấu bữa cơm mà không cần giấu khói
để con được cảm ơn ngọn lửa nhà ta
ngọn lửa biết thay con tìm lời an ủi mẹ…

Không cần những gợi mở hướng đến những hình ảnh lớn lao và xa lạ, chỉ bình dị với hình ảnh chiếc chõng tre mộc mạc cũ sờn, hình ảnh mái rạ nghèo khó và ngọn lửa bếp âm thầm mỗi chiều qua, nhà thơ đã gợi lên sự gần gũi, thân thuộc của quê hương trong mỗi chúng ta để "bao xa cách lấp bằng trong chốc lát/ trăm cánh rừng về dưới giọt ranh thưa".

Những câu thơ đậm đặc chất thi sĩ dường như đã trở thành  một tố chất tìm tòi của riêng phong cách thơ Hữu Thỉnh. Ông xin phép mẹ cho con đi gánh nước là để "gánh bao nhiêu trong mát để dành". Ông xin phép mẹ cho con nấu cơm là: "để con được cảm ơn ngọn lửa nhà ta/ ngọn lửa biết thay con tìm lời an ủi mẹ". Với bài thơ "Ngôi nhà của mẹ", có thể nói nhà thơ Hữu Thỉnh đã đánh thức trong ta những cung bậc cảm xúc rất thân thương, rất gần gũi với con người mà có lẽ chỉ có những người lính từng đi qua nỗi đau chiến tranh mới thấm thía được.

Những thập niên cuối thế kỷ XX, nhà thơ Hữu Thỉnh đã có nhiều thành tựu đóng góp cho thi ca chiến tranh cách mạng qua những bài thơ và các trường ca khá nổi tiếng của ông. Ở bài viết ngắn này, tôi chỉ đề cập đến những đóng góp của Hữu Thỉnh trong những phát hiện, tìm tòi, đổi mới cho thi ca Việt Nam sau chiến tranh. Theo tôi, viết về thơ Hữu Thỉnh thật dễ mà cũng thật khó.

Dễ là bởi nhiều bài thơ của ông thuộc loại thơ hay và hàm súc. Còn khó là bởi thơ Hữu Thỉnh có những đổi mới về thi pháp một cách có hệ thống từ đã lâu, nhưng các tìm tòi này thường được biểu đạt dưới dạng chuyển hóa rất nhuyễn các nhịp điệu của thi ca truyền thống để hướng tới một cách nói mới, giàu nội hàm tư tưởng hơn cách nói cũ nghiêng về phía bộc lộ cảm xúc của người viết.

Trong bài thơ "Lời mẹ" dưới đây, nhà thơ đã hai lần ở hai thời điểm khác nhau, đặt câu hỏi hồn nhiên như một đứa trẻ để được nhận lời bảo ban sâu sắc, thông tuệ mang màu sắc triết lý của người mẹ trước những nghịch lý của đời sống con người: "Tôi bước ra ngoài ngõ/ Gió thổi. Nước triều lên/ Đi hoài không gặp tiên/ Đành quay về hỏi mẹ/ - Hãy yêu lấy con người/ Dù trăm cay nghìn đắng/ Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi, chơi với cây!/ Tôi lại bước dưới trời/ Không tiếc mòn tuổi trẻ/ Đi hoài không gặp tiên/ Lại quay về hỏi mẹ/ - Hãy yêu lấy con người/ Dù trăm cay nghìn đắng/ Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi, chơi với cây!".

Đọc xong bài thơ, tôi chợt giật mình tự hỏi: Vì sao con người muốn yêu thương con người lại phải trải qua trăm cay nghìn đắng như vậy? Và câu trả lời minh triết mang màu sắc thiền luận của người mẹ vẫn giữ nguyên sau rất nhiều năm đã lý giải tất cả.

Qua mấy khổ thơ trên, có thể thấy, có lẽ với các thi nhân và nhiều người nữa, không ai khác ngoài người mẹ của họ đã nuôi dưỡng cả "phần xác và phần hồn" cho những đứa con bằng dòng- sữa- tinh - thần- nhân-văn ngàn đời còn thấm đẫm trong tục ngữ, ca dao và còn mãi trong hơi thở máu thịt của mỗi cuộc đời trên mảnh đất nghèo khó và nhiều cay đắng này.

Ở nhiều bài thơ khác, các hình ảnh liên tưởng khá độc đáo và những suy tư giàu chất nhân văn trong thơ Hữu Thỉnh thường mang lại các phát hiện rất bất ngờ, khiến cho những câu thơ tài hoa của ông phát sáng kỳ ảo ở các chiều kích khác nhau. Và cái nét mới nổi trội trong thơ Hữu Thỉnh chính là những cuộc đối thoại rất sinh động và mang màu sắc triết lý của nhà thơ với thiên nhiên, với cuộc sống, với con người… để bồi đắp cho vẻ đẹp chân-thiện-mỹ mà thi ca ngàn đời vẫn hướng tới. Đấy là khi nhà thơ xin phép mẹ:

Mẹ ơi mây héo con xin mẹ
Cho con lên an ủi mặt trăng buồn
Chợ tan đường cũng tan như chợ
Bán được buồn hay mua được buồn hơn
Ta vay bóng mát mà không trả
Trời hiểu vì sao lại mất mùa
Ta đã qua những mặt bàn nguy hiểm
Những người hiền vương vít giữa rơm khô

                     (Đất ngày thường)

Có một điều dễ nhận thấy, trong thơ Hữu Thỉnh, âm hưởng của thi ca dân gian truyền thống đã được chắt lọc và làm mới một cách rất tài hoa và có tính nâng cao. Ở các bài thơ 5 chữ, 7 chữ và lục bát mang âm điệu truyền thống của ông, cảm tính và lý tính đã hòa quyện trong mạch liên tưởng của những tứ thơ được tạo dựng khá công phu và chặt chẽ.

Thật ra, để đạt được sự hài hòa giữa cảm xúc và tư tưởng trong sáng tạo thi ca, người viết phải có tài năng thật sự và phải có sự trải nghiệm cả về mặt kinh nghiệm đời sống và văn chương. Hữu Thỉnh là một nhà thơ có được những phẩm chất vượt trội đó.  

Người làm thơ hiện nay quá nhiều, nhưng có lẽ chỉ những người có phẩm chất thi sĩ - phẩm chất của tài năng mới làm nên những gương mặt thơ đặc sắc, độc đáo để tạo nên sự khác biệt giữa nền và đỉnh. Hữu Thỉnh là một trong số ít nhà thơ giàu chất thi sĩ mà bài thơ "Chạm cốc với Xa-in" là một ví dụ: 

Dãy núi A-la-tau có vẻ mặt đáng kính của một nỗi buồn
Nho lại bắt đầu, không có gì mới
Xin nâng chén vì anh! Ta chúc những gì đây
Tuyết quê anh nhiều, xin cho tôi như tuyết.

Những đôi trai gái ôm hoa vào phòng cưới
Họ yêu nhau không có kinh nghiệm gì
Họ nhảy và hát không có kinh nghiệm gì
Họ chia tay nhau không có kinh nghiệm gì
Tôi và anh không có kinh nghiệm gì
Càng viết càng thấy mình yếu đuối

Đường nhân nghĩa chừng nào còn lắm bụi
Anh hiểu vì sao tôi ít lời
|Anh hiểu vì sao tôi hay nhắc mẹ tôi
Nỗi ám ảnh suốt đời day dứt
Đối với mẹ sẽ là đòn đau nhất
Có kẻ nào rình ném bẩn lên tôi
Giữa tiệc rượu và hoa, tưởng chừng không đúng lúc
Nhắc đến nỗi đau những uất ức ở đời
Làm sao được, rượu hoa thường ít
So với chia ly, gian dối, dập vùi
Miếng cơm manh áo che khuất mẹ tôi
Sự vô tình che khuất mẹ
Người thường vắng mặt trong các cuộc vui
Tóc bay trắng trong buổi chiều gió bạc
Thơ mỗi ngày người càng ít đọc hơn
Nhưng con chọn thứ vũ khí này bênh vực mẹ
Con đi trong mưa, mài trên đá
Gặp niềm vui càng thương mẹ nhiều hơn

Xa-in ơi, anh không có vỏ bọc nào đáng ngại
Sống mỗi ngày nguyên chất cho thơ
Xin nâng chén mừng anh
Hoa táo nở.

Trong bài thơ trên, khi nhà thơ phải chọn thơ làm thứ vũ khí để bênh vực người mẹ của mình đã có lúc bị sự vô tình của miếng cơm manh áo che khuất trong cuộc đời, thì đấy có lẽ là nỗi đau lớn nhất của người con, nhất là khi người mẹ đang bị ám ảnh trước việc người con của mình đang phải nếm trải nỗi đau đớn khi bị kẻ khác "rình ném bẩn".

Bài thơ đã làm người đọc xúc động khi nhà thơ ngậm ngùi nhận ra hình bóng của người mẹ thân yêu: "Sự vô tình che khuất mẹ/ Người thường vắng mặt trong các cuộc vui/ Tóc bay trắng trong buổi chiều gió bạc". Và nhà thơ tự nhủ: "Thơ mỗi ngày người càng ít đọc hơn/ Nhưng con chọn thứ vũ khí này bênh vực mẹ".

Trong những tìm tòi đổi mới thi ca rất đáng ghi nhận của nhà thơ Hữu Thỉnh trong nhiều thập niên qua, vẻ đẹp minh triết của tư duy thơ hiện đại đã hiện dần ra trên cái nền nhịp điệu cảm xúc tinh tế của thi ca truyền thống và theo tôi, đấy chính là phong cách thơ Hữu Thỉnh, đậm đặc phẩm chất thi sĩ và hàm súc về mặt tư tưởng. Bài thơ "Chạm cốc với Xa-in" nói trên, một lần nữa cho chúng ta thấy xu hướng tìm tòi, đổi mới luôn là những trăn trở trong thơ của Hữu Thỉnh sau chiến tranh.

Điểm qua một số bài thơ viết về mẹ của nhà thơ Hữu Thỉnh, tôi không có tham vọng khắc họa chân-dung- thơ một nhà thơ đương đại xuất sắc mà chắc chắn rồi đây, các nhà phê bình, lý luận sẽ còn tốn nhiều thời gian và giấy bút. Tôi chỉ điểm và bình theo cách cảm nhận của một người làm thơ khi đứng trước một áng thơ hay, một bài thơ hay, một câu thơ hay viết về người mẹ đã làm xúc động nhiều độc giả thơ trong những năm qua. Thiết nghĩ, vậy cũng là đủ! 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.