Tiến sĩ Ngô Phương Lan cho biết, năm 1989, điện ảnh Việt Nam cũng chuyển đổi theo quỹ đạo chung: xóa bỏ bao cấp, bắt đầu cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước trong sản xuất và phát hành - phổ biến phim. Vì thế, vào đầu những năm 1990, từng có lúc "phim mì ăn liền" lấn át hoạt động điện ảnh. Tuy nhiên, những giá trị đích thực của các tác phẩm điện ảnh thời Đổi mới như những điểm sáng không thể che mờ. Không khí đổi mới lan tỏa vào tác phẩm điện ảnh từ cách phát hiện các vấn đề xã hội và thể hiện rất chân thực; cách nhìn, cách nghĩ táo bạo của nhà làm phim. Họ đi vào ngóc ngách cuộc sống để khắc họa những góc khuất, đi đến cùng những bi kịch và khát vọng của con người.
Nhìn lại lịch sử điện ảnh Việt Nam, có thể thấy những bộ phim xuất hiện vào những năm cuối thập niên 1980 và giữa thập niên 1990 đã tạo nên một bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy sáng tạo. Những tác phẩm như "Bao giờ cho đến tháng Mười", "Thị trấn yên tĩnh", "Cô gái trên sông", "Thằng Bờm", "Gánh xiếc rong", "Tướng về hưu", "Hãy tha thứ cho em", không chỉ ghi dấu bằng giá trị nghệ thuật mà còn mở ra những cách tiếp cận mới đối với hiện thực cuộc sống và số phận con người. Lúc này, điện ảnh đã mạnh dạn đi vào những góc khuất của đời sống, đối diện với những vấn đề xã hội đang vận động và thay đổi, phản ánh những biến chuyển sâu sắc trong tâm thức con người Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Tiến sĩ Ngô Phương Lan cho rằng, nhiều bộ phim của giai đoạn này không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc, mà còn là những "tư liệu tinh thần" quý giá về một đất nước đang chuyển mình.
Một dấu ấn rất quan trọng là sự ra đời của Luật Điện ảnh năm 2006, sửa đổi năm 2009; đặc biệt, Luật Điện ảnh năm 2022 đã phản ánh rõ quá trình chuyển biến về tư duy quản lý: từ quản lý hành chính sang cách tiếp cận mở hơn, coi trọng vai trò của thị trường, của doanh nghiệp, của hội nhập quốc tế, đồng thời vẫn giữ vững định hướng văn hóa và bản sắc dân tộc. Điện ảnh Việt đã có những bước phát triển mạnh mẽ, doanh thu phòng vé đạt kỷ lục.
Nếu năm 2009, Việt Nam có 97 phòng chiếu với tổng doanh thu khoảng 302 tỉ đồng (13 triệu USD) thì 10 năm sau có 1.036 phòng chiếu với 4.064 tỉ đồng (176 triệu USD), tăng hơn 12 lần. Hệ thống rạp chiếu phát triển bùng nổ. Thị phần phim Việt năm 2024 đạt 44% so với 30% thời trước dịch COVID-19; năm 2025 lên đến 62%. Nhiều bộ phim độc lập, phim nghệ thuật thành công tại các Liên hoan phim quốc tế. Một thế hệ làm phim mới đang hào hứng, đầy bản lĩnh trên con đường sáng tạo. Những con số này không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của sự cổ vũ từ khán giả và sự nỗ lực không ngừng của các nhà làm phim. Nó khẳng định rằng: Khán giả Việt không hề quay lưng với phim Việt, chỉ cần chúng ta có sản phẩm tốt.
40 năm Đổi mới đã giúp điện ảnh Việt Nam chuyển mình từ một nền điện ảnh bao cấp sang một thị trường điện ảnh năng động với nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn, điện ảnh cần sự quan tâm đầu tư có chiến lược của nhà nước, xây dựng hệ sinh thái bền vững, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mở rộng hợp tác quốc tế… Khi đó, điện ảnh không chỉ kể những câu chuyện Việt Nam mà còn góp phần nâng cao sức mạnh mềm và vị thế văn hóa của đất nước trên trường quốc tế.
Nhà văn, nhà phê bình Châu La Việt: Tháo gỡ "điểm nghẽn"
Để một nền điện ảnh phát triển bền vững, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào những "điểm nghẽn" cốt tử. Đó chính là sự thiếu hụt một hành lang pháp lý linh hoạt cho cơ chế hợp tác công - tư (PPP). Dưới góc độ tư duy thị trường, điện ảnh là một chuỗi giá trị kéo dài từ khâu ý tưởng, sản xuất đến phát hành và phổ biến. Nếu một mắt xích bị nghẽn, toàn bộ hệ thống sẽ lãng phí nguồn lực: Thành công của "Mưa đỏ" do Điện ảnh Quân đội nhân dân sản xuất chính là minh chứng cho việc vận hành đúng quy luật thị trường. Bên cạnh chất lượng của bộ phim, khi đơn vị sản xuất Nhà nước chủ động "bắt tay" với các nhà phát hành tư nhân ngay từ đầu, bộ phim đã tận dụng được sức mạnh marketing và mạng lưới rạp chiếu rộng khắp. Đây không chỉ là thắng lợi về doanh thu, mà còn là thắng lợi trong việc đưa các giá trị nghệ thuật tiếp cận sâu rộng nhất tới công chúng.
Tôi hoàn toàn ủng hộ kiến nghị của Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam: Để Nghị quyết 80 thực sự đi vào đời sống, cần sớm có các thông tư, quy định cụ thể nhằm định hình một "sân chơi chung" minh bạch. Trong đó nhà nước là nhà đầu tư chiến lược và "bệ đỡ" văn hóa. Trong tư duy thị trường, nhà nước không nên làm thay những việc thị trường làm tốt, mà nên tập trung vào những khoảng trống mà thị trường bỏ ngỏ. Đầu tư vào các "vùng lõi" giá trị: Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt bằng cách rót vốn vào các đề tài sử thi, lịch sử dân tộc hoặc những tác phẩm mang tính thử nghiệm nghệ thuật cao. Đây là những dự án có mức độ rủi ro thương mại lớn nhưng lại mang lại giá trị thặng dư về tinh thần, lòng tự hào dân tộc và định hình bản sắc quốc gia, điều mà các doanh nghiệp tư nhân, với áp lực thu hồi vốn nhanh, thường chưa dám mạo hiểm.
Với mạng lưới rạp chiếu hiện đại và các nền tảng phát hành trực tuyến (OTT) sẵn có, tư nhân là đơn vị biến tác phẩm điện ảnh thành hàng hóa thực thụ. Họ có khả năng tối ưu hóa doanh thu từ phòng vé, bản quyền truyền hình, cho đến việc khai thác các sản phẩm ăn theo giúp dòng tiền được luân chuyển và tái đầu tư vào các dự án tiếp theo.
Vì vậy, theo tinh thần Nghị quyết 80, việc tháo gỡ điểm nghẽn để tạo ra một cơ chế Hợp tác công - tư chính là cách để chúng ta kết hợp "bàn tay hữu hình" của Nhà nước và "bàn tay vô hình" của thị trường, đưa điện ảnh Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp văn hóa thực sự hùng mạnh.
(Trích tham luận tại hội thảo “Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới)
Bước chuyển mình mạnh mẽ của Điện ảnh CAND
Ra đời từ năm 1970, Điện ảnh CAND đã từng là một địa chỉ tin cậy và có dấu ấn trong lòng khán giả với nhiều tác phẩm đỉnh cao. Mặc dù trải qua những giai đoạn thăng trầm vì nhiều nguyên nhân nhưng Điện ảnh CAND vẫn luôn là một dòng chảy bền bỉ và mang bản sắc riêng trong đời sống phim ảnh Việt Nam, đặc biệt ở lĩnh vực khắc họa đời sống chiến đấu, công tác của lực lượng CAND. Tái xuất sau hơn 40 năm vắng bóng trên thị trường, Điện ảnh CAND ghi dấu ấn đặc biệt bằng sự thành công vang dội của "Tử chiến trên không", "Tận hiến" cùng một loạt phim đã và đang triển khai. Điều này cho thấy tiềm năng, nội lực và khẳng định hướng đi đúng đắn của một thương hiệu điện ảnh có tuổi đời gần 60 năm.
Ra mắt khán giả vào tháng 9/2025, "Tử chiến trên không" thực sự là một tác phẩm "bom tấn" cho thị trường điện ảnh Việt Nam. Không chỉ là bộ phim có doanh thu cao, liên tục giành được những giải thưởng tại các Liên hoan phim, vinh dự hơn, tại "Tuần lễ điện ảnh Việt Nam tại Paris" (tháng 12/2025), bộ phim "Tử chiến trên không" được chọn chiếu khai mạc. Sự ra mắt ấn tượng ấy góp phần không nhỏ quảng bá hình ảnh Việt Nam và lực lượng CAND đến với bạn bè quốc tế…
Điện ảnh CAND đang có những bước chuyển mình rõ rệt, bằng loạt dự án phim mang hơi thở thời đại, gắn với đời sống, nhiệm vụ và hình ảnh người chiến sĩ Công an trong tình hình mới. Bên cạnh dòng phim tài liệu luôn được duy trì và sản xuất đều đặn thì từ năm 2023, điện ảnh CAND bắt đầu quay lại thực hiện phim truyền hình về đề tài hình sự "Đội điều tra số 7", lấy cảm hứng từ những chuyên án mà Phòng Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Hà Nội phá án thành công. Hai mùa phim đã mang đến cho khán giả những thước phim đánh án nghẹt thở và hấp dẫn...
Mới đây nhất, điện ảnh CAND mạnh dạn khai thác đề tài tình báo trong bộ phim truyền hình "Tận hiến" và có được thành công vang dội. Lấy cảm hứng từ những chiến công thầm lặng của lực lượng tình báo CAND, với cách làm phim chỉn chu, công phu, "Tận hiến" không chỉ tái hiện một giai đoạn lịch sử bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại mà còn khắc họa chân dung người chiến sĩ tình báo chân thực, xúc động. Ngay sau khi phát sóng, bộ phim đã nhận được hiệu ứng vô cùng tích cực từ đông đảo công chúng.
Sự thành công của "Tận hiến" đã là động lực để những người làm điện ảnh CAND tiếp tục bắt tay vào thực hiện bộ phim điện ảnh "Mật mã Đông Dương" khai thác đề tài tình báo đầy thú vị và hấp dẫn. Đạo diễn Hàm Trần sau "Tử chiến trên không" cũng "thừa thắng xông lên" hợp tác cùng Điện ảnh CAND ở vai trò đạo diễn bằng dự án phim "Nữ biệt động Sài Gòn". Cả hai bộ phim đều dự kiến ra mắt vào dịp 30/4/2027 và hứa hẹn sẽ hấp dẫn khán giả. Dự án phim điện ảnh "Giờ sám hối" cũng vừa được triển khai, mang đến những góc nhìn mới mẻ về cuộc chiến chống tội phạm của các chiến sĩ Cảnh sát hình sự.
Bên cạnh sự đổi mới về nội dung, Điện ảnh CAND đã có những bước chuyển mình trong kỹ thuật làm phim từ chất lượng hình ảnh đến nhịp điệu kể chuyện. Sự tham gia của các đạo diễn, biên kịch trẻ, kết hợp với đội ngũ làm nghề giàu kinh nghiệm, tạo nên sự giao thoa giữa tư duy điện ảnh hiện đại và chất liệu đời sống chân thực. Trung tá Trần Nam Chung, Giám đốc Điện ảnh CAND khẳng định: "Thế mạnh của Điện ảnh CAND là "kho tàng" về các vụ án có thật, các nhân chứng thật trong hoạt động điều tra phá án của lực lượng CAND. Bên cạnh đó, khâu tổ chức và điều hành sản xuất ở các nội dung có quy mô lớn có sự tham gia của nhiều lực lượng trong CAND. Vì thế, mục tiêu xây dựng Điện ảnh CAND trở thành địa chỉ tin cậy của các nhà đầu tư, các đối tác để cùng thực hiện các dự án phim có quy mô, tầm vóc hơn nữa".
Có thể nói, những người làm điện ảnh CAND ngày nay đang không ngừng nỗ lực để tiếp nối truyền thống tự hào, phát huy tinh thần của các nghệ sĩ - chiến sĩ trong thời đại mới. Điện ảnh CAND không chỉ từng bước tìm lại vị trí trong lòng khán giả mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh người chiến sĩ CAND thông qua ngôn ngữ điện ảnh. Như mong muốn của Trung tướng Đỗ Triệu Phong, Cục trưởng Cục Truyền thông CAND: "Điện ảnh CAND phải nỗ lực để có được những tác phẩm tầm vóc, đảm bảo yếu tố thông điệp, nghệ thuật và thị trường. Chủ động hợp tác để trưởng thành trong môi trường làm phim hiện đại. Không chỉ ghi dấu với khán giả trong nước, Điện ảnh CAND cần hội nhập mạnh mẽ với điện ảnh quốc tế bằng những bộ phim mang đậm bản sắc Việt".
Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên: Cần một cơ chế hỗ trợ điện ảnh
Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên bắt đầu làm phim từ năm 1991. Anh đã thử sức trong nhiều môi trường làm phim: Phim điện ảnh nhà nước, điện ảnh tư nhân, phim độc lập... và làm nhiều thể loại phim. Anh chia sẻ với Văn nghệ Công an những trăn trở về cơ chế và mong ước cho sự phát triển của điện ảnh Việt Nam trong thời gian tới.
- Mặc dù thị trường điện ảnh phát triển mạnh trong những năm gần đây, nhưng để trở thành một ngành công nghiệp điện ảnh đúng nghĩa, theo ông, đâu là những hạn chế về cơ chế, chính sách đang khiến điện ảnh chưa thể bứt phá?
+Từ năm 1986 đến nay, nền điện ảnh non trẻ và yếu ớt của Việt Nam phải cạnh tranh hoàn toàn sòng phẳng với phim ngoại. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường phim phát triển nhanh chóng và sôi động, tăng trưởng số lượng phòng chiếu trung bình 30% trong nhiều năm. May mắn thay, khán giả Việt Nam vẫn yêu thích phim Việt hơn phim ngoại, nên phần lớn thị phần điện ảnh trong nước vẫn còn thuộc về phim Việt. Cho đến nay, tư nhân giữ vai trò chủ đạo trong công nghiệp điện ảnh Việt Nam. Nhưng sự hỗ trợ của nhà nước cho công nghiệp điện ảnh trong nước (khu vực tư nhân) khá ít ỏi.
Công nghiệp điện ảnh là một ngành sản xuất đặc biệt, sản phẩm cũng đặc biệt. Nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước thì khó có thể phát triển được. Chúng ta có thể tham khảo sự hỗ trợ của nhà nước cho điện ảnh ở Malaysia, một đất nước rất gần chúng ta, có nền kinh tế tương đương chúng ta, dân số bằng 1/3 chúng ta và có số lượng phim hàng năm tương đương chúng ta (60 phim). Xin hãy vào trang web của Cục Phát triển Điện ảnh Quốc gia Malaysia (FINAS) về chương trình Film In Malaysia Incentive - Mục FIMI for Domestic và FIMI for Foreign để biết chính sách hỗ trợ của Malaysia như thế nào. Theo tôi, đó là những sự hỗ trợ "trong mơ" nếu có với những nhà làm phim Việt Nam.
- Một nền công nghiệp điện ảnh không chỉ cần những bộ phim hay, đạo diễn giỏi mà còn cần nhà sản xuất, biên kịch, kỹ xảo, phát hành, marketing... Đó là một hệ sinh thái để cho điện ảnh Việt phát triển bền vững. Theo ông, mắt xích nào của điện ảnh Việt hiện còn yếu?
+ Điện ảnh là một ngành tổng hợp. Nên không thể nói khâu nào mạnh hơn hoặc yếu hơn khâu nào. Cho đến nay, theo tôi biết, chúng ta chưa có một nền công nghiệp điện ảnh mạnh, vì sản phẩm chỉ hoàn toàn trông chờ vào thị trường trong nước. Mà bản thân thị trường trong nước khá mong manh, trồi sụt nên dẫn đến việc thiếu sức hút đối với nhân lực chất lượng cao trong dài hạn. Đầu tư cho điện ảnh vẫn quá rủi ro nên vấn đề vốn, nhân lực cũng như tính đa dạng của phim Việt vẫn hạn chế, quanh đi quẩn lại phim gia đình và phim ma, những phim chạy theo trào lưu, chiều theo thị hiếu của số đông khán giải giải trí vẫn chiếm số lượng lớn. Trong khi đó, những bộ phim nghệ thuật định hình tầm vóc và chiều sâu của văn hóa Việt vẫn còn ít.
- Là người nhiều năm gắn bó với công tác đào tạo, ông đánh giá thế nào về đội ngũ làm phim trẻ hiện nay? Họ cần được hỗ trợ thêm những gì để có thể hội nhập quốc tế?
+ Có lẽ nên thay câu hỏi là họ cần sự hỗ trợ gì bằng câu hỏi: Họ có thể tìm thấy sự hỗ trợ ở đâu? Vì người trẻ cần và đáng được hỗ trợ tất cả mọi thứ trong bước đi đầu tiên. Họ là tương lai của điện ảnh. Đáng tiếc là đến nay, chỉ có rất ít những nơi giúp đỡ thiết thực cho các nhà làm phim trẻ. Mà khả năng hỗ trợ khá khiêm tốn. Đứng đầu là một công ty của Hàn Quốc hàng năm hỗ trợ cho các bạn trẻ làm 5 phim ngắn… Trung tâm hỗ trợ phát triển tài năng điện ảnh TPD thành lập từ năm 2003 đã giúp đỡ cho khá nhiều các nhà làm phim Việt Nam thành danh trong giai đoạn đầu, giờ phải chật vật để tự tồn tại… Đào tạo những nhà làm phim đâu chỉ là học ở nhà trường là thành tài? Họ cần sân chơi, cần tài chính, cần sự khuyến khích động viên cũng như sự giao lưu học học trong nước cũng như quốc tế về chuyên môn... Nhưng hầu như rất ít cánh cửa dành cho những nguyện vọng của họ. Tôi là một nhà làm phim nên tôi hiểu rằng kêu ca không giải quyết được gì cả. Những người trẻ phải tự tìm cách vượt qua khó khăn và vượt qua bản thân mình, từng chút một.
- Cảm ơn anh.