Ở Việt Nam có không ít địa danh mang tên Chòi, nhiều hơn cả là ở miền Trung (Đèo Chòi, Bãi Chòi, Xóm Chòi, Suối Chòi…). Tên gọi này thường gắn liền với tên một loại cây (cây chòi mòi), nhưng phổ biến là gắn với cái chòi canh - một loại nhà nhỏ, sơ sài, thường làm bằng vật liệu tre, nứa, lá, gỗ, có mái che; được dựng trên các cột cao hoặc cây cao, dùng để trông nương rẫy, canh gác, hoặc làm nơi nghỉ. Trong chiến tranh, chòi là nơi để quan sát, báo hiệu tình hình… Thế là chòi mang thêm ý nghĩa biểu tượng về sự phát hiện, cảnh giác, gìn giữ, ý thức bảo vệ, tạo ra sự yên tâm. Trong văn hóa, cái chòi được "dựng" thành biểu tượng theo hai nguyên tắc, khá thú vị.
Năm 2017, "Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam" được vinh danh là "Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại", đã khẳng định giá trị đặc sắc của một loại hình nghệ thuật dân gian. Vào khoảng cuối thế kỷ XVI, đất đai miền duyên hải Trung Bộ hoang vu, thú rừng kéo về phá hoại mùa màng. Người dân dựng những chiếc chòi cao để canh giữ, khi thấy muông thú sẽ đánh chiêng trống, hò la xua đuổi. Trong những đêm dài, những đối đáp bằng câu hò, tiếng hát giữa các chòi nối với nhau, làm quên đi nỗi mệt mỏi, căng thẳng. Hát Hô Bài Chòi ra đời. Người ta còn sáng tạo thêm hình thức chơi bài tứ sắc kết hợp với hát đối đáp, vừa ngồi trên chòi đánh bài, vừa hát những câu ca dao, tục ngữ, lời ứng tác. Sự kết hợp trò chơi dân gian và nghệ thuật diễn xướng làm nên nét độc đáo riêng, chỉ có ở loại hình này. Theo thời gian, dần phát triển thành những hội Bài Chòi vào mỗi dịp lễ Tết, nhất là hội Bài Chòi xuân. Bằng những ứng tác linh hoạt, người ta hô hát những câu thơ giàu hình ảnh, tinh tế, hài hước, phản ánh đời sống lao động, tình yêu quê hương, đạo lý làm người. Từ những điệu hô ban đầu, các nghệ nhân sáng tạo thêm các làn điệu mới: "Xuân nữ", "Cổ bản", "Xàng xê", "Hò Quảng". Có hình thức diễn xướng hát lẻ, do một giới (nam/ nữ) hát đối, mỗi nhóm hát thường vài ba người, diễn ra mọi lúc, mọi nơi, đang lao động hay giải lao…, tức gắn liền với cuộc sống đời thường. Tiếp thu một số yếu tố của nghệ thuật tuồng, Hát Bài Chòi vốn mộc mạc dân dã, tăng thêm tính hàn lâm của nghệ thuật sân khấu nên giàu biểu cảm, có chiều sâu. Nét đặc sắc nhất của nghệ thuật Hát Bài Chòi là sự kết hợp giữa âm nhạc dân gian, diễn xướng và trò chơi dân gian. "Anh hiệu" (người chủ xướng, trung tâm) rất quan trọng, vừa hát, vừa hô, ứng tác, ứng đối linh hoạt bằng những câu ca dí dỏm, giàu chất thơ, gần gũi đời sống. Sau Cách mạng tháng Tám, Hát Bài Chòi được sử dụng rộng rãi để cổ vũ, ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu và niềm tin vào thắng lợi. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp được xem là giai đoạn phát triển rực rỡ của Bài Chòi.
Là một hình thức nghệ thuật phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân miền Trung, Hát Bài Chòi là nơi lưu giữ kho tàng ca dao, tục ngữ, tiếng nói dân gian cùng vốn từ vựng đặc sắc, nhất là thể hiện lối ứng xử đậm chất cộng đồng. Mang tính tổng hợp cao: trò chơi, âm nhạc, thơ ca, sân khấu, bộ môn nghệ thuật diễn xướng này là sợi dây gắn kết cộng đồng, đoàn kết, sẻ chia. Giá trị văn hóa đưa loại hình vượt qua giới hạn một trò chơi dân gian trở thành một biểu tượng miền Trung Bộ.
Thiêng hóa - Đền Chòi
Là nơi thờ phụng các vị thần, anh hùng có công, mỗi ngôi đền giống như cái bản lề khép mở hai không gian hôm qua và hôm nay, kết nối con người với cội nguồn tâm linh và quá khứ lịch sử. Trong mỗi ngôi đền đều chứa đựng các giá trị văn hóa riêng về nghệ thuật, kiến trúc, tín ngưỡng, phản ánh và ký thác ước mơ, khát vọng. Không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, nghệ thuật, đền thiêng còn là biểu tượng của lòng thành kính, của đạo lý biết ơn, phản ánh niềm tin, triết lý sống và khát vọng hướng thiện của con người.
Ở xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, nay thuộc xã Đông Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên, có một ngôi đền thiêng - Đền Chòi. Hướng ra vùng cửa sông Hóa - địa danh nổi tiếng trong lịch sử chống giặc Mông Nguyên, còn có tên gọi khác là đền Dinh, đền Tam Tòa, hình tượng Đền Chòi có hai lớp huyền thoại bao bọc. Theo thần phả và truyền thuyết dân gian, đền được xây dựng từ thời các vua Hùng thờ các vị thần Đế Thích, Diêm La cùng hai anh em Điển Công, Đông Công - những vị có công chữa bệnh cứu dân và giúp vua Hùng đánh giặc Xích Tụy (còn gọi là "giặc mũi đỏ"). Tên gọi Đền Chòi là dựa vào vị trí đặc biệt của di tích - cái chòi canh giữ cửa biển Đại Bàng - vị trí quân sự trọng yếu đời Trần. Chính sử kể, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần ba, ngày mùng 6 tháng Giêng năm 1288, dưới sự chỉ huy của danh tướng Phạm Ngũ Lão, quân ta đã đánh trận thủy chiến ở cửa Đại Bàng, phá tan hàng trăm chiến thuyền giặc, mở đầu cuộc phản công chiến lược. Đến nay Đền Chòi là nơi thờ tự các vị thánh có công, là địa chỉ lưu giữ ký ức lịch sử hào hùng. Từ một cái chòi đơn sơ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, dân gian đã "bứng" vào miền huyền thoại rồi bao bọc nhiều lớp ý nghĩa về đạo lý biết ơn, về thái độ thành kính với tiền nhân…
Biểu tượng Đền Chòi cũng thật đa nghĩa. Liệu có đúng đền "được xây dựng từ thời các vua Hùng"? Bởi chắc chắn thời vua Hùng, vùng đất này vẫn là biển. Nhưng nếu hiểu thời đó, vùng này là một hòn đảo, thì lại chấp nhận được. Nhưng rõ ràng lớp nghĩa gắn với vua Hùng thì xa cách với quá nhiều lớp sương mù thời gian, so với lớp nghĩa gắn với cái chòi đời Trần. "Chứng cứ" gần với thời vua Hùng là câu chuyện về giếng cổ "mắt rồng" nằm trong khuôn viên di tích. Huyền tích kể, điều đặc biệt là nước giếng có khả năng chữa bệnh "mất trí nhớ". Tức gắn liền với chi tiết "hai anh em Điển Công, Đông Công - những vị có công chữa bệnh cứu dân". Dựa vào một số tài liệu chính sử và nội dung các sắc phong còn lưu giữ tại đền, có nhiều nghiên cứu cho biết, hai vị tướng Trần Đông, Trần Điển thời Trần có công trong trận chiến cửa Đại Bàng, nên dân gian phối thờ cùng danh tướng thời vua Hùng. Ý kiến này gần với thực tế lịch sử. Qua phong cách kiến trúc hiện tại, có thể khẳng định đền được khởi dựng vào thời Hậu Lê, trùng tu dưới thời Nguyễn (cuối thế kỷ XIX). Trong đền lưu giữ nhiều hoành phi, câu đối, các mảng chạm khắc tinh xảo phản ánh tài nghệ dân gian và trình độ mỹ thuật truyền thống.
Là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của cư dân vùng biển, hàng năm, lễ hội Đền Chòi diễn ra vào đầu tháng bảy âm lịch. Có nhiều lớp huyền thoại chung quanh hình tượng giếng cổ "mắt rồng" - nằm giữa vùng ven biển thường bị nhiễm mặn, nhưng quanh năm không bao giờ cạn nước ngọt. Phổ biến nhất là truyền thuyết, sau khi thắng quân Nguyên - Mông, vùng cửa biển Đại Bàng xảy ra dịch bệnh. Hai vị tướng Trần Đông, Trần Điển cho đào giếng đúng vào vị trí "mắt rồng". Nước giếng rất thiêng, có khả năng chữa bệnh. Theo thời gian, được dân gian lưu giữ, trao truyền, huyền thoại càng được nhân lên tính hấp dẫn. Nước giếng được mang về nhà, thành kính dâng cúng tổ tiên. Nhìn từ biểu tượng, đó là nguồn nước phúc đức của tiền nhân, giúp đỡ, che chở cho hậu thế cháu con.
Cây xanh nghệ thuật kết trái biểu tượng
Từ nghệ thuật Hát Bài Chòi và hình tượng Đền Chòi, có thể được rút ra nhận định: Cây xanh nghệ thuật phải được trồng từ mảnh đất đời sống, quang hợp những nguồn ánh sáng nhân văn, khát khao, tin yêu cuộc đời, mới có thể kết được trái cây biểu tượng có hương vị riêng. Chỉ trong tín ngưỡng dân gian miền ven biển Thái Thụy (cũ) mới "xây" được biểu tượng Đền Chòi. Có thể gọi đó là "đặc sản", là điểm tựa, điểm nhấn cho công cuộc phát triển công nghiệp văn hóa ở mỗi địa phương ngày hôm nay.