Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” được Bác viết 60 năm trước, in trên báo Nhân dân số 4884 ngày 17/7/1966. Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyền đi cùng ngày 17/7/1966. Ngay lập tức bài báo được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới, nhiều tờ báo lớn in đậm tên bài ở trang nhất.
Đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký Bác Hồ, kể chúng tôi nghe ý định Bác viết tác phẩm này từ đầu tháng 6 năm 1966. Ngày 25/6 Bác viết bài “Kiên quyết đập tan âm mưu giặc Mỹ” (in báo Nhân dân ngày 28/6/1966, số 4465). Ngày 26/6 Bác bắt đầu viết dòng đầu tiên, cuối tháng 6 thì hoàn thành. Với tính chất quan trọng và tầm vóc lịch sử, đầu tháng 7/1966 Bác đề nghị Thư ký gửi tới một số đồng chí trong Bộ Chính trị, ngày 17/7 báo Nhân dân in toàn văn. Thế nên, nhiều sách tuyển tập, nhiều công trình nghiên cứu gọi là "Lời kêu gọi", là đúng với nội dung, thời điểm lịch sử ra đời.
Từ đầu năm 1965, chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố theo đuổi kế hoạch xâm lược phi nghĩa. Chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", ở miền Nam tăng cường quân, ở miền Bắc tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân, Mỹ âm mưu buộc Việt Nam phải "đàm phán" theo điều kiện của kẻ cướp. Đáp ứng với tình hình, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (tháng 3/1965) và lần thứ 12 (tháng 12/1965) đã khẳng định quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược trong bất cứ tình huống nào. Ngày 1/1/1966 trước thềm Xuân Bính Ngọ, Bác có “Thơ chúc mừng năm mới”: "Mừng miền Nam rực rỡ chiến công/ Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng…/ Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng/ Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng/ Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng/ Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng/ Thi đua sản xuất, chiến đấu xung phong/ Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng" (Báo Nhân Dân số 4289 ngày 1/1/1966). Bài thơ ngắn gọn, súc tích, cô đọng, gói trong đó bao ý nghĩa về niềm vui thắng lợi, tiền tuyến, hậu phương cố gắng, cả nước đoàn kết. Cũng ngày đầu năm này, Bác viết “Lời chúc đầu năm gửi nhân dân Mỹ”: "Nhân dịp năm mới, tôi thân ái chúc nhân dân Mỹ hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc". Thay mặt cả nước, Bác thể hiện quan niệm và ý chí hòa bình: "Nhân dân Việt Nam rất tha thiết với hòa bình, nhưng hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự. Vì đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cho nên nhân dân Việt Nam phải chống lại để bảo vệ độc lập và gìn giữ hòa bình" (Báo Nhân Dân số 4289 ngày 1/1/1966). Chỉ mấy câu văn nhưng thể hiện khát vọng của cả dân tộc ta về "hoà bình, phồn vinh, hạnh phúc", khẳng định "Nhân dân Việt Nam rất quý trọng tình hữu nghị với nhân dân Mỹ vĩ đại đang tiếp tục những truyền thống của Hoa Thịnh Đốn và Lincôn đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ". Nhưng hòa bình đi liền với "độc lập", nên người Việt Nam buộc phải chống lại kẻ xâm lược đất nước mình. Đây cũng là lời tuyên bố với cả thế giới: người Việt Nam yêu và quyết bảo vệ hòa bình, nên sẵn sàng cầm súng chống lại quân xâm lược.
Ngày 16/1/1966, Bác có “Bài nói tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng”. Lời Bác là lời của Chân lý lịch sử: "Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng, nhất định ta thắng". Lời Bác là ý chí của dân tộc, của lịch sử: "Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Vì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm, cho nên ta nhất định thắng dù phải hy sinh gian khổ đến đâu…". Cũng đồng thời là lời của hòa bình, chính nghĩa: "Ai là kẻ xâm lược, ai là kẻ bị xâm lược? Ở miền Nam, bây giờ vì sao có đánh nhau? Kẻ bị xâm lược đánh nhau với kẻ đi xâm lược. Muốn có hòa bình, kẻ xâm lược phải cút đi".
Từ những bài nói, bài viết ở trên, cho thấy Bác đã đoán trước âm mưu mở rộng chiến tranh của Mỹ. Đến giữa năm 1966, dã tâm của kẻ xâm lược càng thể hiện rõ ý đồ quyết cướp hòa bình của dân tộc Việt Nam. Chúng chuẩn mở rộng ném bom miền Bắc. Ngày 17/7/1966 trên làn sóng điện Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyền đi lời kêu gọi lịch sử của Bác Hồ: KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO. Đó là Lời hịch kháng chiến mang tầm một Tuyên ngôn thời đại: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!". Nhiều ký giả lớn, trên nhiều tờ báo yêu hoà bình khẳng định, lời kêu gọi của Hồ Chí Minh là hiện thân cho tình yêu hoà bình, công lý và chân lý của dân tộc Việt Nam cũng như của cả nhân loại tiến bộ: "Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình, hoà bình thật sự, hoà bình trong độc lập tự do…".
Một điều cần thấy rõ hơn là, tư tưởng độc lập, tự do nhất quán một cách tuyệt đối trong suốt cuộc đời Bác. Động lực thúc đẩy để Người đi tìm đường cứu nước là độc lập tự do cho dân tộc. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo) xác định: "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập". Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941), Đảng ta chỉ rõ: "Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được". Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thay mặt Tổ quốc, Bác tuyên bố "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Đến “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, với nhiệm vụ khó khăn phải đánh đuổi một kẻ xâm lược giàu có, hung ác, tác phẩm là sự dồn tụ tư tưởng, là đỉnh cao ý chí, quyết tâm.
Xét từ góc độ lời "tuyên ngôn", trên bề mặt văn bản là sự đối thoại với "đồng bào và chiến sĩ cả nước"; nhưng về nội dung, hướng tới 3 đối tượng chính, ngoài "đồng bào và chiến sĩ", là đế quốc Mỹ và dư luận quốc tế. Với đồng bào và chiến sĩ cả nước, đó là lời kêu gọi, động viên: "Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn". Với đế quốc Mỹ, là sự kết án đanh thép: "Ai đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ, là Hiệp định bảo đảm chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam? Phải chăng quân đội Việt Nam sang xâm lược nước Hoa Kỳ và giết hại người Hoa Kỳ? Hay là Chính phủ Mỹ đã đem quân đội Hoa Kỳ đến xâm lược nước Việt Nam và giết hại người Việt Nam?". Nhìn từ thời công nghệ số hôm nay, ngoài tri thức, được coi là tầm trí tuệ, khi đưa ra được những câu hỏi cần giải quyết. Những câu hỏi Bác đưa ra chính là những vấn đề cốt lõi, bản chất về cuộc xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mỹ. Với dư luận tiến bộ, lời Bác là lời đạo lý biết ơn của người Việt: "…thay mặt nhân dân Việt Nam, nhiệt liệt cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ".
Theo nhiều tờ báo lớn trên thế giới, đây là một trong những bài báo có lập luận hùng hồn, đanh thép, giàu cảm xúc, thuyết phục, truyền cảm cả về giọng điệu, về ý về tình. Với người Việt Nam, Bác đã đúc kết một câu nói vàng về tâm hồn, tính cách, khí phách dân tộc: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", nên sẽ sống mãi cùng lịch sử.