Nhà thơ Hoàng Trần Cương: Lặng lẽ về với Đất mẹ

Đọc lại tập thơ nổi tiếng nhất của ông, tập "Trầm tích" (1996), tôi bị ám ảnh nhiều nhất bởi những câu thơ về mẹ và quê hương. Đây có lẽ cũng là một trong những cảm hứng lớn nhất trong thơ Hoàng Trần Cương, mang lại cho ông những thi phẩm xuất sắc và cũng  khiến ông trăn trở suốt một đời văn...

Nhà thơ Hoàng Trần Cương sinh năm 1948 ở Nghệ An, thuộc dòng dõi họ Mạc (hậu duệ đời thứ 29 của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi), tác giả của những câu thơ, bài thơ nổi tiếng về miền Trung vừa qua đời tại Hà Nội chiều 9/4/2020 sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật, để lại nhiều nỗi tiếc thương trong lòng bè bạn và những người yêu văn chương. 

Nhân ngày tiễn ông về với Đất Mẹ, chúng tôi lần giở lại những bài thơ của ông để hiểu thêm về một hồn thơ Việt.

Mẹ

Đọc lại tập thơ nổi tiếng nhất của ông, tập "Trầm tích" (1996), tôi bị ám ảnh nhiều nhất bởi những câu thơ về mẹ và quê hương. Đây có lẽ cũng là một trong những cảm hứng lớn nhất trong thơ Hoàng Trần Cương, mang lại cho ông những thi phẩm xuất sắc và cũng  khiến ông trăn trở suốt một đời văn.

Người mẹ trong thơ Hoàng Trần Cương hiện lên trước tiên với nỗi vất vả nhọc nhằn ở một vùng quê lam lũ. Cái vất vả ấy kéo dài suốt tháng quanh năm, nó thấm vào đứa trẻ từ khi mới lọt lòng: "Mẹ tôi đẻ rơi tôi bên cối giã gạo/ Tôi lấm láp đáp mình vào đất" (Nguồn cội).

Nhà thơ Hoàng Trần Cương và một tác phẩm thơ của ông.
Nhà thơ Hoàng Trần Cương và một tác phẩm thơ của ông.

Trong mỗi cuộc mưu sinh hằng ngày, trong những khi phải chống đỡ với thiên tai, có những câu thơ dễ khiến chúng ta ứa nước mắt vì cảm động, vì xót xa: "Bữa tôi chào đời trời rạch chớp xanh/ Nước sông Lam đã trèo vào cổng/ Treo vội con lên chạn/ Mẹ xắn quần đi giằng lại cái sanh đồng sứt quai (Cật tre)/ Mẹ lật đật trèo lên đò ngang/ Quẩy theo con vào chợ/ Gò lưng giữ cho cân đòn gánh/ Chỉ sợ con lật người là đổ mất ngày mai… Sớm mai sụp nón/ Sấp mặt ngồi cuối chợ/ Nhặt về những đồng xu bạc phếch đất bùn" (Thóc giống).

Mẹ giống như nhân vật nữ mang tính điển hình cao nhất, đại diện cho quê hương. Bên cạnh mẹ còn thấp thoáng bóng dáng người bà, cũng vất vả lầm lũi suốt một đời, lúc nào cũng dõi theo và yêu thương cháu: "Chiều chiều mẹ ra sông mót cá/ Tôi tha thẩn khắp vườn bòn mấy quả mận xanh… Đâu biết có bà vẫn lần theo canh chừng gai góc/ Lụi hụi dáng lưng còng lóng ngóng vịn cơn mưa" (Đất mật).

"Lụi hụi dáng lưng còng lóng ngóng vịn cơn mưa", theo tôi là một trong những câu thơ hay nhất viết về hình ảnh người bà trong thơ Việt Nam hiện đại. Câu thơ đầy ám ảnh bởi tính tượng hình qua việc điệp lại 5 lần phụ âm cuối "ng" qua các từ: "dáng", "lưng", "còng", "long", "ngóng". Ba chữ "vịn cơn mưa" ở cuối câu thơ lại mang vẻ đẹp kì ảo.

Người bà như bước từ quá khứ, từ những hồi ức kỷ niệm trở về hiện tại với tác giả, vừa gần gụi mà vừa xa mờ. Hai chữ "lụi hụi" mang thanh nặng khiến âm điệu câu thơ lúc đầu chìm xuống, nhưng hai chữ "cơn mưa" mang thanh không lại khiến câu thơ bay lên khi kết thúc, làm lòng người mãi rưng rưng…

Người mẹ trong bao kham khổ, vất vả vẫn tần tảo chắt chiu chăm lo cho đàn con mỗi ngày. Người mẹ nào mà chẳng quan tâm lo lắng yêu thương các con, nhưng người mẹ chăm lo cho đàn con trong cảnh nghèo mà Hoàng Trần Cương tạc lại trong thơ có những chi tiết vô cùng ám ảnh: "Mong bắt được vài con cá chầy/ Để buổi chợ sớm mai mẹ không ngồi đỏ mắt/ Để bữa cơm chiều hôm không vàng khè màu ngô dặt/ Với đĩa rau lang cao như tầng núi xám/ Che mặt các em con phía bên kia mâm/ Nước mắt mẹ rơi thầm/ Những giọt nước mắt mẹ cố che để con không nhìn thấy" (Thóc giống).

Không chỉ những chi tiết mà còn là cả những câu chuyện cứ lần lượt hiện về từ trong ký ức, những câu chuyện rất thực rất đời từ một vùng quê nghèo, không cần tô vẽ, nhà thơ chỉ kể lại đúng như nó diễn ra để rồi những câu chữ chạm vào tim người đọc: "Tôi nhảy nhót/ Va vào vại nhút/ Vại nhút va vào gốc cau và vỡ tan tành/ Vỡ tan tành thức ăn cất trữ của cả nhà trong mùa lụt/ Mẹ không mắng/ Mà khom lưng nhặt nhạnh/ Những mảnh sành kết muối trắng tinh/ Vại nhút vỡ mất rồi/ Biết lấy gì đắp lên bát cơm gạo lứt/ Mẹ chan tiếng cười chạy vòng quanh mâm/ Nhìn những mảnh sành vương vãi khắp sân/ Tôi chợt hiểu/ Vì sao tóc bà rồi tóc mẹ/ Cứ trắng như phía trong của lớp mảnh sành nằm đáy vại/ Khi tan cả hình hài/ Ta mới kịp nhận ra…" (Cật tre).

Người mẹ không chỉ nuôi con khôn lớn mà còn trao cho con một sức mạnh tinh thần, cho con mình một trái tim vừa biết mạnh mẽ vừa biết yêu thương: "Mẹ ơi/ Mẹ đã cho con trái tim mang hình chóp núi/ Chống nắng chọi mưa/ Trần trụi dưới trời/ Cái chóp núi vừa ngoi lên đã chui qua cát bụi" (Địa linh).

Quê hương

Hoàng Trần Cương sinh ra và lớn lên tại xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, một vùng quê nghèo của miền Trung gió Lào cát trắng. Hình ảnh một vùng quê nghèo đi vào nhiều câu thơ, bài thơ của ông với những diễn đạt độc đáo: "Ôi quê hương!/ Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước/ Gió bão thù chi với mảnh đất này/ Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen sì ngoài biển/ Mưa giờ Ngọ chưa qua gió giờ Mùi đã đến/ Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh/ Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh/ Ngẩng mặt đụng trời xanh nhức mắt/ Dằng dặc dải làng quê thưa thắt/ Những vạt lúa đỏ đuôi luội mình đổ rạp/ Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát/ Tảng cháy cạy đi rồi/ Còn hằn vết móng tay/ Cày lên/ Sưng cả đáy nồi" (Nguồn cội).

Cái nhọc nhằn nghèo khó không chỉ in hằn lên bóng dáng mỗi con người mà nó còn in dấu vào tất cả thiên nhiên, đất trời, sự vật, đồ đạc nơi đây: từ mỗi cơn nắng cơn mưa, quả chanh quả ớt, vạt lúa nồi cơm. Trước Hoàng Trần Cương, chưa có ai tả về cái nghèo đầy day dứt như hình ảnh "sưng cả đáy nồi". Con người chống đỡ lại cái nghèo, cái khắc nghiệt của thiên nhiên, nhiều lúc tưởng chừng như quá sức, tưởng chừng như bất lực, nghẹn ngào: "Gió lào/ Thổi khô nước mắm/ Mẹ giấu biệt trong buồng mà gió chẳng buông tha" (Địa linh).

Hai người bạn thơ ấy giờ đều đã về với trời xanh mây trắng. Trong ảnh: Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (bên phải) và nhà thơ Hoàng Trần Cương.
Hai người bạn thơ ấy giờ đều đã về với trời xanh mây trắng. Trong ảnh: Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (bên phải) và nhà thơ Hoàng Trần Cương.

Quê hương nghèo nhưng luôn ấm áp tình người, bắt nguồn từ một nguồn cội sâu thẳm, không chỉ có kết nối giữa những người đang sống mà còn kết nối cả với những người đã khuất: "Người đã khuất vẫn cưu mang người đang sống/ Ngôi mộ là chứng nhân/ Những chứng nhân mọc và rụng không bất ngờ với đất/ Đất hiến trao/ Đất lại nhận về (…) Ngày tảo mộ cả làng dậy sớm/ Ngạt ngào xôi nếp thơm/ Mùi cỏ dại cay nồng/ Mùi hương bay ríu giọng/ Những chi tộc gần xa về hội ngộ/ Mơ hồ phấn mưa bay/ Vuông đất này xin bái tiến tổ tiên/ Vuông đất này xin hiến trao người lạ" (Tảo mộ).

Quê hương nghèo mà luôn mở rộng vòng tay với những ai tìm đến, tìm về. Một quê hương đằm thắm yêu thương, dũng cảm kiên cường qua bao năm tháng chiến tranh, và rồi đọng lại là sự đoàn tụ sum vầy. Bài thơ nổi tiếng nhất về quê hương của Hoàng Trần Cương chính là tuyệt phẩm "Miền Trung", được viết từ năm 1990, đến năm 1996 ông dùng tác phẩm này làm đoạn kết cho trường ca "Trầm tích".

Thi phẩm mang vẻ đẹp lộng lẫy như một tượng đài về đất và người miền Trung: "Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa/ Chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam… Những đốt sống Trường Sơn lởm chởm dăng màn/ Thoáng bóng giặc núi bửa thành máng súng/ Những đứa con văng như mảnh đạn/ Thương mẹ một mình trời sinh đá mồ côi… Miền Trung/ Câu ví giặm nằm nghiêng/ Trên nắng và dưới cát/ Đến câu hát cũng hai lần sàng lại/ Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm/ Miền Trung/ Bao giờ em về thăm/ Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt/Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ/ Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ/ Không ai gieo mọc trắng mặt người/ Miền Trung/ Eo đất này thắt đáy lưng ong/ Cho tình người đọng mật/ Em gắng về/ Đừng để mẹ già mong".

Vỹ thanh

Hoàng Trần Cương khi viết về mẹ, bao giờ bóng mẹ cũng hiện lên giữa quê hương. Ngược lại, khi viết về quê hương, bao giờ cũng thấp thoáng bóng hình người mẹ. Có thể nói, mẹ và quê hương là hai vế song hành không tách rời trong một loạt thi phẩm của ông, chinh phục người đọc bằng sự thành thực, xúc động, ngôn ngữ thơ chân mộc, xù xì mà nhức buốt tâm can. Cách diễn đạt nhiều khi có pha chút cường điệu nhưng luôn độc đáo, ấn tượng, đặc biệt những diễn tả về cái nghèo.

Trong lòng mỗi người yêu thơ Hoàng Trần Cương, đặc biệt là những người sinh ra và lớn lên ở miền Trung, chắc chắn vị trí của ông, những câu thơ của ông là không bao giờ có thể thay thế.

Xin được khép lại bài viết bằng những câu thơ thật đẹp, thật tươi sáng của ông trong một tình yêu sâu thẳm, vĩnh viễn, hướng về mẹ và quê hương: "Mẹ là trầm tích của bạt ngàn thương mến/ Xanh mát bầu trời đượm ấm hương quê/ Đưa ngọn gió trở về xóm nhỏ/ Đưa cơn mưa xuống mạch giếng làng/ Đưa mây trắng về trời khêu lại nắng/ Đưa nỗi buồn ra khỏi thôn trang" (Những viên đá lẻ).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.