Nhà thơ Gia Dũng: Một chút thu dìu dịu

Nhà thơ Gia Dũng tên đầy đủ là Đỗ Gia Dũng (1940 - 2019) quê huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Gia Dũng là tác giả "Bài ca Trường Sơn", được nhạc sĩ Trần Chung phổ nhạc. Nhạc phẩm "Bài ca Trường Sơn" đã trở thành "Bài ca đi cùng năm tháng", sẽ còn vang mãi trong tâm hồn các thế hệ thanh niên Việt Nam.

Tuy nhiên, Gia Dũng còn là tác giả của một số bài thơ trữ tình vào loại hay. Ví như bài "Hàn Mặc Tử", hay như bài "Chừng nao em về làng Đót" chẳng hạn. Thơ Gia Dũng ngôn ngữ thuần phác, nhẹ nhàng, đôn hậu, mà tình điệu sâu lắng. Ông là một thi sĩ đích thực.

Mấy chục năm cuối đời, nhà thơ Gia Dũng tập trung sức lực vào việc tìm kiếm thơ ca, nhất là những thi phẩm hay còn khuất lấp đâu đó trong bề rộng đời thường. Được một số bạn văn gần gũi giúp đỡ, Gia Dũng đã biên soạn được một số bộ sách tuyển thơ có giá trị. Sinh năm 1940, nhà thơ Gia Dũng rời cõi tạm cũng đã gần 4 năm rồi.

Nhà thơ Gia Dũng: Một chút thu dìu dịu -0

CHỪNG NAO EM MỚI VỀ LÀNG ĐÓT

Chừng nao em mới về làng Đót?
Dòng Sa Lung nay khác xưa rồi
Thi thoảng có người qua bến cũ
Nhưng mà ít lắm, thoảng thi thôi!

Chiều không đổ bóng trên lưng mẹ
Xóm xưa buồn mẹ có còn đâu
Ngõ nhỏ ngày xưa tôi ngóng mãi
Hắt hiu chỉ gặp hắt hiu sầu

Chiều qua chợt thấy trời se lạnh
Hình như chim nhạn gọi thu sang
Chắc em không nhớ mùa thu nhỉ
Thu chỉ đồng quê, chỉ xóm làng!

Chừng nao em mới về làng Đót
Hỏi xong tôi chợt thấy thẹn lời
Làng Đót xưa em về có mẹ
Bây giờ làng Đót mấy xa xôi…

Với thi nhân, trong thất tình (bảy thứ tình cảm thường có của con người) thì hình như nỗi buồn thường chiếm tỷ lệ cao hơn các thứ tình cảm khác. Âu cũng là một sự thường tình. Khi ở cái tuổi "Thất thập cổ lai hy", nhà thơ Gia Dũng cho xuất bản tập thơ "Cuối trời mây trắng bay" bài nào cũng thấy man mác buồn. Dẫu cung bậc những nỗi niềm mỗi bài có khác nhau, nhưng đều thấy hiện lên một nỗi cô đơn, đôi khi xa xót. Bài thơ "Chừng nao em mới về làng Đót" cũng man mác buồn, trong một hoàn cảnh cụ thể, phổ biến, nhưng mà cũng ít nhiều phảng phất một chút riêng tư…

Ấy chính là một địa chỉ cụ thể, cái làng Đót xưa và bây giờ. Làng Đót xưa có em và có mẹ, còn bây giờ thì không, không tất cả. Cảnh vật cũng đã phai màu xưa cũ. Đó chính là duyên cớ để khơi lên những kỷ niệm, xới lên những nỗi niềm xao xuyến trong lòng thi nhân:

Chừng nao em mới về làng Đót?
Dòng Sa Lung nay khác xưa rồi
Thi thoảng có người qua bến cũ
Nhưng mà ít lắm, thoảng thi thôi!

Cái làng Đót quê nghèo xưa của "tôi" và "em", của chúng ta, bây giờ vẫn còn đấy, nhưng "nay khác xưa rồi"! Dòng Sa Lung thân quen vẫn chảy, nhưng có thể đã không còn rộng rãi như xưa. Còn cái bến đò xưa bên dòng sông thơ, đông đúc người qua lại, giờ đây vẫn có người lại qua, "nhưng mà ít lắm", thi thoảng thôi, và cũng "thoảng thi thôi"!...

Đấy là chấm phá mấy nét về cái làng Đót quê tôi và cũng là quê em. Tác giả như đang vẽ lên hình ảnh quê hương, thủ thỉ tâm sự với người xa quê, xa đã lâu lắm chưa thấy trở về, rằng "chừng nao em mới về làng Đót"? Bao giờ, khi nào thì em mới trở lại làng quê cũ, nơi mà chúng mình đã được sinh ra và lớn lên, nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ yêu dấu?...

Khổ thơ tiếp theo, tả làng Đót ở góc độ gần hơn:

"Chiều không đổ bóng trên lưng mẹ,
Xóm xưa buồn mẹ có còn đâu
Ngõ nhỏ ngày xưa tôi ngóng mãi
Hắt hiu chỉ gặp hắt hiu sầu
".

Người xưa trở lại quê xưa, chợt bâng khuâng bao nỗi niềm khó tả. Làng cũ không còn mẹ, không còn cảnh "nắng chiều đổ bóng trên lưng mẹ", mà em thì xa tắp tận chân trời. Cảnh tình trở nên vắng vẻ hắt hiu, hiu hắt. Nỗi buồn len vào ngõ nhỏ, lan toả khắp đó đây, tràn ngập tâm hồn thi nhân. "Ngõ nhỏ ngày xưa tôi ngóng mãi", trông mãi một người, đó chính là "em", giờ đây vẫn đang ngóng trông đấy, nhưng mà vô vọng, nên nỗi buồn mới thấm đẫm cả cỏ cây, tím sẫm cả chiều buồn… Từ "ngóng" - ngóng trông - chính là tâm điểm của khổ thơ này. Nó diễn đạt đầy đủ một nỗi nhớ, một niềm khắc khoải, đau đáu khôn nguôi.

Rồi "Chiều qua chợt thấy trời se lạnh/ Hình như chim nhạn gọi thu sang/ Chắc em không nhớ mùa thu nhỉ/ Thu chỉ đồng quê, chỉ xóm làng"

Vẫn là cái giọng thầm thì tâm sự với "em", nhưng giọng thơ, tình thơ, ý thơ đã có phần chuyển đổi. Một chút trách móc, một chút giận hờn tui tủi, rằng thu đã sang rồi đấy, thu của ngày xửa ngày xưa, thu của một xứ quê nghèo ấm áp tình quê, bây giờ chắc em đã quên thật rồi ư? Không nhớ thật rồi ư? Em bây giờ có lẽ đang vui vầy với nắng ấm phương Nam, hoặc cũng có thể vì một lý do bất khả kháng nào đó, chắc cũng không còn nhớ mùa thu quê nhà nữa, bởi đó chỉ là thu đồng quê, "thu chỉ đồng quê, chỉ xóm làng"! Một lời trách khéo, nhẹ như làn gió thu, mà thâm trầm sâu sắc, như cứa vào lòng người xa xứ...

Rất nhiều nhớ thương, trách móc giận hờn, buồn tủi. Cuối cùng, chỉ có thể làm tăng lên nữa, đầy thêm nữa cái tình tôi với em, không sao nguôi ngoai cho được. Một câu hỏi, đúng hơn là một tiếng gọi thiết tha lại vang lên ở khổ thơ cuối bài: "Chừng nao em mới về làng Đót?" Hỏi đấy, gọi đấy, nhưng rồi lại tủi thân tự vấn tự trách mình, thấy "thẹn lời", bởi vì tiếng gọi của tôi, câu hỏi của tôi, chắc gì em nghe thấy, chắc gì em muốn nghe, chắc gì em để tâm tới, nên mới "thẹn" với chính mình. Có thể có một lý do đơn giản, vì làng Đót của em "bây giờ không còn mẹ", thì em về thăm ai? Còn như những kỷ niệm của "tôi" và "em", của làng Đót quê nghèo, bây giờ chắc đã trở thành sương khói... Bởi vậy, trong em, "bây giờ làng Đót mấy xa xôi"…

Một câu hỏi được lặp lại tới hai lần, lại được lấy làm tựa đề bài thơ, cho thấy chủ ý của tác giả. Nhân vật trữ tình "tôi" tự giãi bày, tự biểu hiện cái "tình yêu đơn phương", biết bao cung bậc nỗi niềm. Âm điệu thơ trầm lắng, điệp mãi lên một tiếng lòng khắc khoải.

Có hơi hướng của hương vị Thơ mới ở cách phô diễn, ở lối dẫn dắt vào tứ thơ, ở nhịp điệu uyển chuyển, nhưng không hoàn toàn phải vậy, bởi tâm cảnh khác, thời thế cũng khác xa rồi. Chỉ có cái tình của muôn đời thi sĩ là không bao giờ đổi khác.

Một bài thơ được viết theo thể thất ngôn truyền thống, câu chữ lại không mới, không gia công gọt đẽo khó nhọc gì nhiều, nhưng đọc thấy rưng rưng xao xuyến, bởi tình thơ chân thật, nồng ấm và trong trẻo. Những chữ đảo chiều (thi thoảng, thoảng thi; hắt hiu, hiu hắt) không gia tăng thêm ngữ nghĩa, nhưng có giá trị bồi đắp thêm cho nhạc điệu thơ. Người đọc dường như vẫn nghe vang vọng đâu đây một tiếng gọi đò, một tiếng gọi tình, một tiếng gọi người thiết tha, da diết, gần lắm, nhưng mà xa xôi lắm!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.