Nhà thơ Dương Kỳ Anh: Con người báo chí không lấn át con người thi ca

Dương Kỳ Anh làm thơ từ đã lâu, từ phần thơ học trò in chung với Trần Đăng Khoa và Cẩm Thơ đến nay đã qua mấy chục năm sáng tạo. Rất may con người "báo chí" không lấn át được con người thơ của ông.

Tin nhà thơ, nhà báo Dương Kỳ Anh vừa qua đời gây bao niềm thương tiếc của bạn bè báo chí, văn chương và độc giả yêu mến ông. Ông là gương mặt báo chí khá nổi trội thời Đổi mới, làm Tổng biên tập Báo Tiền phong 21 năm (1987-2008) cùng với Báo Thanh Niên, Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh và một số cơ quan báo chí khác đã làm nên sự thành công của báo chí thời Đổi mới với những bút ký, phóng sự, điều tra thu hút sự chú ý ở cả trong và ngoài nước. Trong đó, có hai chục năm, ông làm Trưởng ban tổ chức kiêm Trưởng ban giám khảo các cuộc thi Hoa hậu Việt Nam vang bóng nhiều thập niên của Báo Tiền phong.

Năng khiếu thơ phát lộ từ thời thiếu nhi

Dương Kỳ Anh (tên thật là Dương Xuân Nam), SN1948, quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh, năng khiếu thơ phát lộ từ thuở thiếu thời. Ông có thơ in chung với lớp nhà thơ thiếu nhi nổi tiếng thời ấy như: Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ… Sau khi tốt nghiệp khoa Văn - Đại học Tổng hợp, ông nhập ngũ và trở thành sĩ quan điều khiển tên lửa trong chiến tranh chống Mỹ.

Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông chuyển về dạy đại học rồi chuyển sang làm báo, về làm phóng viên Báo Tiền phong và trở thành Tổng biên tập khi chưa tròn 40 tuổi. Dương Kỳ Anh từng tâm sự: "Cả đời tôi chật vật học cách nói thật, nói thật trong văn chương, nói thật trong báo chí…". Ông luôn nhắc nhở rằng mình và đồng nghiệp, phải viết  báo với mục đích trong sáng, chống tiêu cực để làm trong sạch xã hội, bảo vệ niềm tin của xã hội.

nhà tho duong k%3f anh.jpg -0
Nhà thơ Dương Kỳ Anh.

Trong bài viết này, tôi xin nói tới một chân dung khác của Dương Kỳ Anh là chân dung văn chương, mặc dù sự nghiệp báo chí của ông nổi bật hơn thơ nhưng "Con người báo chí trong ông không hề lấn át con người thi ca". Cho đến nay, ông đã xuất bản gần 30 tác phẩm như: Thơ, truyện ngắn, ghi chép, truyện ký, phóng sự, tiểu thuyết. Trong đó, nổi bật là các tập thơ: "Và anh đợi" (1987); "Đi qua thời gian" (1992); "Miền ký ức" (2001); "Thơ Dương Kỳ Anh" (2005); "Xuyên Cẩm" (tiểu thuyết 2004); "Thổ địa" (tiểu thuyết, 2006); "Cõi ta bà" (2008). Ông đã được trao các giải thưởng văn học: Tặng thưởng thơ hay của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1988; Giải thưởng bài thơ hay do Báo Nhân dân tuyển chọn năm 1988; Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Du cho tiểu thuyết "Xuyên Cẩm" năm 2005.

Tôi còn nhớ cách đây hơn ba chục năm, Dương Kỳ Anh tặng tôi tập thơ có cái tựa đề "Đi qua thời gian" do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 1992. Tôi đọc kỹ tập thơ này, và nhận thấy đây là tập thơ rất khá, mang giọng điệu trữ tình thế sự với nhiều biểu đạt, dự cảm mới về tính thời gian. Theo tôi, thời gian là một tập hợp những khoảnh khắc Tĩnh và Động của một đời người được tính bằng năm tháng, kể từ lúc con người sinh ra và trưởng thành cho tới khi… nằm xuống. Ở một bình diện lớn hơn xét về mặt địa dư và lịch sử, đó là sự thăng trầm dâu bể, hưng vong của những thời đại.

Nếu mô phỏng thời gian là một mạch chảy liên tục, thì những trạng thái vận động của nó luôn tiềm ẩn bên trong mình những biến cố đổi thay khôn lường. Nhưng rõ ràng trạng thái vận động này có những quy luật riêng nghiệt ngã của nó, mà với kinh nghiệm tích lũy được qua hàng ngàn năm, con người đã nắm bắt được và dự đoán. Có lẽ thiên nhiên, thời gian và lịch sử là người làm ra khúc hát của những "đổi thay", mà nhà thơ là người "biên soạn" lại những xúc động ấy để mang đến cho mọi người.

Những dự cảm và chân dung thời gian trong thơ

Dự cảm thời gian trong thơ Dương Kỳ Anh chính là sự "biên soạn" để ghi lại những khoảnh khắc đó, mà bài thơ "Trước lăng Khải Định" của ông đã phác thảo được chân dung thời gian ấy: "Ở đây bùn đất lên ngôi/ Mảnh sành, mảnh chĩnh cùng ngồi với vua/ Dẫu hồn thơ của người xưa/ Tài hoa một nét, bây giờ còn đây/ Nghe trong hương khói vơi đầy/ Thời gian hưng phế, tháng ngày phôi pha/ Đời người như ngọn gió qua/ Bao triều vua cũng chỉ là hư không".

Tôi cho rằng đây là một bài thơ hay của Dương Kỳ Anh. Không phải vô tình mà khá nhiều bài thơ trong tập thơ này như mạch chảy lặng lẽ đến vô tình của thời gian đã lay động cảm xúc trong tâm hồn người thơ: "Thời gian rũ áo không quay lại/ Bảng lảng thời gian sương khói ơi/ Đất trời như thực, như mơ ấy/ Xin một cành non hái với đời". Nhưng giây lát ấy, ở câu cuối của khổ thơ giữa cái thực và cái ảo của cuộc đời, nhà thơ bỗng thấy khao khát cái hồn nhiên, non xanh của thiên nhiên và tình người, có thể là bước đi của thời gian theo mùa: "Hình như năm đã hết/ Lá vàng rụng ngoài hiên/ Hình như xuân đã tới/ Mưa bụi bay trước thềm".

Qua những dự cảm thời gian này ta thấy con người thi sĩ trong Dương Kỳ Anh khá nhạy cảm và trữ tình. Ở bài thơ "Ngọn gió" viết tặng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, tứ thơ của ông cũng bắt đầu khơi mạch từ ngọn gió thời gian đã đi qua: "Những em Cu tai giờ đã lớn khôn/ Câu hát một thời vẫn còn xao xuyến/ Chiến tranh đi qua cuộc đời còn hiển hiện/ Ngọn gió hoang sơ sẽ thổi đến bao giờ". Cũng chính vì sự phát hiện về tính thời gian mà cái nhìn có tính nhân bản của bản ngã thơ ông trăn trở hơn, sâu lắng hơn: "Mẹ thắp một nén nhang/ Trước hương hồn những người lính tình nguyện/ Cho các anh thanh thản/ Đi qua thù hận thế gian này".

Dương Kỳ Anh làm thơ từ đã lâu, từ phần thơ học trò in chung với Trần Đăng Khoa và Cẩm Thơ đến nay đã qua mấy chục năm sáng tạo. Rất may con người "báo chí" không lấn át được con người thơ của ông. Phải chăng, cái còn lại sau thời gian, cái có thể vượt qua thời gian còn gì khác nếu không phải là những câu thơ ngay cả trong khoảnh khắc bất lực trước thời gian của nhà thơ: "Tháng giêng, mắt ướt, tóc dài/ Cỏ non xanh rợn, chân trời hư không/ Ngõ buông, một sợi tơ hồng/ Anh buông chiều biếc vẫn không gặp mình".

Dương Kỳ Anh hình như có duyên với thơ lục bát với những câu thơ tài hoa ít nhiều đọng lại trong lòng người đọc. Ở mảng thơ tự do, dự cảm về thời gian của ông được vỡ vạc với những chi tiết khá bất ngờ ngay mỗi khổ thơ trong một bài thơ tạo nên những cảm xúc khác nhau: "Tôi đứng lặng đi/ Trước hạt bụi của bức tường Berlin đổ vỡ/ Bám trên quần mình một đồng đô-la Mỹ". Rồi khổ thơ dưới: "Một chiều mưa Hà Nội/ Tôi chợt thấy một cân tem gạo/ Bỏ quên dưới đáy ba lô". Hai khoảnh khắc ở hai miền đất khác nhau, phải chăng như những dấu tích thời gian còn lại bởi "Thế giới trường tồn giữa bao nhiêu nghịch lý".

Suy nghĩ về nghề văn, Dương Kỳ Anh vẫn trăn trở: "Tôi thường nghĩ rằng, nhà văn lớn phải là nhà văn hóa lớn. Phải sống thế nào trong cuộc đời mới có thể sáng tạo ra một cuộc đời khác trong văn chương, và nghệ thuật suy cho cùng cũng chính là sự thăng hoa của hồn Người để an ủi con Người và dâng lên Thượng đế".

Với ba mươi khoảnh khắc thời gian trong tập thơ mỏng "Đi qua thời gian", nhà thơ Dương Kỳ Anh đã mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc tinh tế, được khắc họa khá ấn tượng bởi các ý tưởng, giọng thơ không ồn ào, cũng không nhẹ nhõm, hời hợt, và phải chăng đây là cái còn lại của một tập thơ, một người thơ. "Lên chùa cởi áo cà sa/ Về làng ngủ dưới gốc đa mặc đời". Đọc câu thơ này của Dương Kỳ Anh khi ông mới ra đi được ít ngày, mới thấy thấm thía những khoảnh khắc mong manh của thời gian mà con người phải trải nghiệm qua trên thế gian này với những buồn, vui và hy vọng.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.