Nhà thơ, dịch giả Dương Tường : Từ thơ ngoài lời đến thơ thị giác

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường mất ngày 14/2/2023 ở Hà Nội, thọ 92 tuổi. Ông là một nhà "Khủng-long-chữ-nghĩa" vì đã dịch sang tiếng Việt hơn 50 tác phẩm văn học của các nhà văn nổi tiếng ở nhiều nước.

Hơn nửa thế kỷ cặm cụi với công việc dịch thuật, tên tuổi Dương Tường đã gắn với các tiểu thuyết lớn của văn chương thế giới như: “Cuốn theo chiều gió”, “Đồi gió hú”, “Anna Karenina”, “Cội rễ”, “Người dưng”, “Alexis Zorba”, “Bức thư của người đàn bà không quen”, “Con đường xứ Flandres”, “Cái trống thiếc”, “Kafka trên bờ biển”, “Chết chịu”, “Lolita”… và mới nhất là bản dịch "Truyện Kiều" sang tiếng Anh. Không chỉ thế, Dương Tường còn được coi là một nhà thơ cách tân khá thành công trong thơ Việt đương đại.

“Vật liệu của thơ tôi không phải con chữ mà là con âm”

Bàn về sự cách tân trong thơ mình, ông khẳng định: “Vật liệu chính của thơ tôi không phải là con chữ mà là con âm. Có lẽ điều phân biệt giữa các bạn thơ khác và tôi là ở chỗ họ làm việc ngôn ngữ trên chiều “biểu nghĩa” (signifie) còn tôi làm việc ngôn ngữ trên chiều “năng nghĩa” (significant). Những gì ở thơ họ là “đã” thì ở thơ tôi là “đang”. Nói cách khác, ở thơ các bạn đó là mặt chữ nhìn “thẳng” còn ở tôi là mặt chữ nhìn “nghiêng”. Tôi nghĩ sức gợi của thơ mình nằm ở mặt chênh đó, nó nảy lên một cái gì giống như âm bồi (son harmonique) trong âm nhạc vậy.

1- %3fnh nhà van duong tu%3fng.jpg -0
Nhà thơ, dịch giả Dương Tường.

Tôi muốn đi theo một thi pháp âm bồi, nếu có thể gọi thế. Và nếu như những câu thơ tôi có một nghĩa nào đó thì là do các âm chữ hắt ánh lên thành một thứ cầu vồng trên mặt chữ mà thôi”. Trong bài “Chợt thu 2” dưới đây, các âm chữ trong thơ Dương Tường lại ngân vang lên như một thứ “cầu vồng” ngũ sắc trong 5 câu thơ của một bản nhạc mới:

Chiều se sẽ hương
Vườn se sẽ sương
Đường se sẽ quạnh
Trời se sẽ lạnh
Người se sẽ buồn

Hình như 5 câu thơ trên không chỉ là một thứ âm bồi, trong bản nhạc mùa thu ấy ta gặp một thứ âm điệu khác thường, một khúc thức khác thường, một vẻ đẹp khác thường tạo nên một hiệu ứng khác thường cả về mặt thị giác và thính giác.

Cho đến trước khi công bố một số tập thơ, Dương Tường đã là một dịch giả văn học rất nổi tiếng. Ông bước vào làng thơ và lập tức gây ra những tranh cãi về một thứ thơ còn xa lạ với dòng thơ chính thống. Nhưng đọc kỹ thơ Dương Tường mới thấy ông đã chủ động xây dựng một ngữ - hệ- mới trong thi pháp Dương Tường nhằm mục đích tối thượng là cách tân trong sáng tạo ngôn ngữ thơ mà bài thơ “Để ghi trên mộ chí sau này” của ông chỉ duy nhất có một câu “Tôi đứng về phe nước mắt” đã phần nào nói lên điều ấy. Tôi thầm nghĩ, đến với thi ca, Dương Tường là một ông thơ già “chịu chơi”. Có nhiều lúc ông bày trò “nghịch ngợm” chữ nghĩa làm bọn hậu sinh rối cả mắt, họ muốn học đòi kiểu chơi của ông nhưng không theo kịp, bởi Dương Tường có những “chiêu thức” bất ngờ đến quái lạ trong trò chơi con chữ - con âm.

Ngày ông còn sống, Dương Tường từng có lần tiếp tôi trong căn nhà nhỏ yên tĩnh nằm khuất giữa ngõ Phan Huy Chú, Hà Nội. Nhà văn với đôi mắt mờ sương như luôn thiếu ngủ dưới cặp kính dày cộp, trao đổi với tôi về vấn đề cách tân thi ca. Ông lặng lẽ lật cho tôi xem từng trang trong tập thơ ngoài lời mang tựa đề “Đàn” được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2003. Trong tập thơ này, không có sự hiện diện của ngôn ngữ chữ viết, mỗi bài thơ là một bức vẽ, một hình họa, một ký tự chấm phá… mang trong mình một dạng thức biểu đạt mới theo kiểu ngôn ngữ Thơ - thị - giác.

Có vẻ như Dương Tường - nhà thơ rất tâm đắc với những trang thể nghiệm “Thơ ngoài lời” rất độc đáo và đặc biệt này khi ông cho biết, đến nay ở Việt Nam chỉ có ông và nhà thơ Trần Dần đã từng viết kiểu Thơ - thị - giác. “Trần Dần có 2 cuốn thơ kiểu này, một cuốn là “Thơ không lời”, còn cuốn kia là “Mây không lời”, còn tôi là cuốn “Đàn - Thơ ngoài lời”.

Thơ tôi gần với thơ Trần Dần và tôi chịu ảnh hưởng của ông. Nếu nói thơ tôi có khác với Trần Dần thì đúng là có cái khác vì tôi vừa là bạn vừa là học trò của Trần Dần. Những cuộc trao đổi về thi ca với Trần Dần đã mở cho tôi hướng đi mới. Ví dụ như ở thời điểm chúng tôi cùng trao đổi với nhau về thơ thị giác, thơ ngoài lời thì những cách tân của Apollinaire (nhà thơ Pháp), của HangriMiso (nhà thơ Bỉ) về loại thơ này cũng đang được bàn tới trong thi ca thế giới. Lúc đó, tuy chưa tiếp cận được văn bản thơ thị giác, thơ không lời của các nhà thơ này, nhưng Trần Dần và tôi đã mở một cuộc chơi “Thơ vô ngôn”.

Đến sau này, khi có được bản in thơ không lời của HangriMiso, tôi mới thấy các thể nghiệm thơ vô ngôn của Trần Dần và tôi cũng có những nét tương đồng với họ. Vì thơ không chỉ có một cách biểu hiện bằng ngôn ngữ mà còn bằng ký tự và khi nó đến, nó có thể được kết hợp bằng cả hình ảnh và âm thanh, bởi nó là một dạng Siêu ngôn ngữ”, Dương Tường bộc bạch.

Mở cuốn thơ thị giác, thơ ngoài lời - “Đàn”, Dương Tường chỉ cho tôi xem những “Thư đồ thi” của Apoline (nhà thơ Pháp) như những hình đồ họa rồi đến loại thơ thị giác xuất hiện ở châu Mỹ. Dương Tường nói với tôi về nguồn cảm hứng dẫn ông đến việc sáng tác tập “Đàn” (thơ ngoài lời) xuất phát từ sự ngưỡng mộ đối với một nữ nghệ sĩ dương cầm.

“Tập thơ tất cả chỉ có một chữ Đàn nhưng các rung cảm đưa mình đến. Bài thơ này như một cái gợi lại "Hồn bướm mơ tiên" nhưng vẫn là những rung động âm nhạc. Còn bài thơ này như một cái Đàn vũ trụ, khi Văn Cao xem bài thơ này, ông đã nhận ra và gọi ngay đây là Vũ trụ Đàn. Cái đàn này, âm nhạc này gợi nhớ đến Bùi Xuân Phái, tôi gọi là Đàn phố. Cái này là tranh Matit treo ngược…”.

Từ Đàn trừu tượng đến Địa đồ đàn

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường chỉ tiếp cho tôi xem các bài thơ khác trong tập “Đàn” của ông: Đây là “Đàn mưa”, “Đàn giông tố”, “Đàn Chopin”, “Đàn khuya”, “Đàn xa” (ngàn dặm đàn), “Đàn trừu tượng” (toán học, parapon, vô tận, vô cực). Còn đây là “Địa đồ đàn”. Tất cả những cái này, nếu xem kỹ và nghe kỹ, sẽ thấy văng vẳng một khúc nhạc, một điệu đàn nào đó. Đặc biệt, Dương Tường chỉ cho tôi xem bài thơ “Đàn mệnh”mà ông tâm đắc nhất trong tập thơ này và cho đó là “Bản biến tấu trên chủ đề Beethoven trong bản giao hưởng Định mệnh” với bốn tiếng đập của số phận gõ cửa thể hiện bằng bốn dấu tay trên trang thơ.

Trên bản “Đàn mệnh” này của Dương Tường, có chữ ký của những nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ… nổi tiếng là bạn bè cùng thời với ông như: Văn Cao, Trần Dần, Nguyễn Xuân Khánh, Đặng Đình Hưng, Bùi Xuân Phái, Lê Đạt, Phạm Toàn, Phan Vũ, Bùi Quang Ngọc, Lưu Công Nhân… Ông ngậm ngùi “Đây là bản độc nhất vô nhị có chữ ký của những người bạn cùng chung một thời gian khổ với tôi. Mỗi người một số phận đan xen vào nhau, rất nhiều người hôm nay không còn nữa…”.

Vào thời gian những năm cuối 60 và đầu 70 của thế kỷ trước, những thử nghiệm về thi ca của các nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Dương Tường… không nơi nào in cả. Nhưng họ vẫn mê mải viết, kiên trì thử nghiệm rồi… chỉ đút vào ngăn kéo, và chỉ khi nào vui thì đưa ra đọc cho anh em bạn bè thân quen nghe trong những lúc “trà dư tửu hậu”. Thời gian gần chục năm ấy, các nhà văn này kiếm sống bằng đi dịch thuê các nguồn tài liệu của Viện Thông tin khoa học xã hội.

Dương Tường kể lại: “Những năm tháng khó khăn ấy, tôi cùng Lê Đạt, Trần Dần, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh… cứ “lăn lê bò toài” ở trong thư viện theo kiểu “cơm đùm, cơm nắm” suốt ngày ở nơi ấy. Những lúc như thế, nếu có ai đến nhà hỏi thăm chúng tôi thì người nhà đều bảo đến tìm ở mấy thư viện (Thư viện Khoa học xã hội và Thư viện Quốc gia), thể nào cũng gặp chúng tôi loanh quanh ở trong đó. Chúng tôi đến đó không chỉ để dịch sách mà còn để học nữa. Ngày ấy, chúng tôi không thể sống bằng công việc dịch sách văn chương mà sống bằng việc dịch thuê các tài liệu thông tin khoa học xã hội như phân tâm học, các tác phẩm triết học, các bộ bách khoa toàn thư… để cung cấp thông tin mới cho công tác nghiên cứu của các viện khoa học. Có thể nói, thời điểm khó khăn ấy, tôi đã vắt kiệt mình ra dịch tài liệu để kiếm sống nuôi vợ con và cũng để tự học thêm tại thư viện khi được tiếp xúc với các tác phẩm của những tác giả tiên tiến của thế giới, cập nhật với những cách tân mở đường của các nhà thơ hiện đại nước ngoài như Rimbo, Malacme…”.

Nhận định về thế hệ thi ca mình với những gương mặt thơ như: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng…nhà văn Dương Tường cho rằng: “Về quan niệm thi ca, thế hệ chúng tôi không chịu lùi một mi - li - mét và không bao giờ nghĩ rằng mình đi sai đường vì cái mới luôn ở trước mặt. Và có mọi con đường đi tới cái mới trong thi ca, miễn là mỗi con người sáng tạo phải phát quang con đường để đi tới cái mới. Nhóm chúng tôi đều nghĩ như vậy và mỗi người cứ lầm lũi đi vào thi ca cách tân với cách của riêng mình”.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.