Nhà phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên: “Bàn thêm về thơ trẻ"

Nhà văn, nhà phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên, sinh năm 1950, quê Thanh Hóa. Những tác phẩm của ông đã xuất bản: “Văn chương - những cuộc truy tìm” (Tiểu luận - phê bình văn học, NXB QĐND, 2006); “Nghe - nhìn - đọc - viết... suy ngẫm” (Tiểu luận - phê bình văn học, NXB VHTT, 2007); “Hệ lụy văn chương” (Tiểu luận - phê bình).

Dưới góc độ của một người nghiên cứu, phê bình Đỗ Ngọc Yên cho rằng: “Không thích chê vầy vậy, khen thoang thoảng. Khen hay chê phải đi đến cùng”. Chính vì luôn quyết liệt trong phê bình, có khi ông bị bạn giận, không hỏi han trong thời gian dài. 

Với văn chương của mình, ông cũng tự nhận là hơi “gấu”, không chấp nhận sự nửa chừng,. “Trong thơ tôi bớt “gấu” hơn, nhưng trong tiểu thuyết và phê bình, tôi luôn quyết liệt” - ông nói. Chính vì luôn quyết liệt trong phê bình nên Đỗ Ngọc Yên luôn nhận được những ý kiến trái chiều của những người trong nghề.

 Trong số này chúng tôi có cuộc trao đổi cùng ông về thơ trẻ và những vấn đề thơ trẻ.

- Dưới góc độ của nhà phê bình văn học, ông có thể chia sẻ những nhận xét, đánh giá về khuynh hướng thơ hậu hiện đại?

+ Như tôi được biết thì có 5 người đứng ra thành lập một nhóm thơ hậu hiện đại và nhà thơ Ngô Văn Giá làm Trưởng nhóm. Tôi đã đọc thơ họ và trao đổi lại với chị Cúc Hoa (một nhà nghiên cứu bên Pháp). Chúng tôi chỉ ra những điều bất cập, ngay cả tên gọi là “Hậu hiện đại”, sau đó họ đã đổi thành “hiện thời Plus”. 

Tại sao lại không thể hình thành khuynh hướng thơ hậu hiện đại ở Việt Nam được, bởi vì thế này, một khuynh hướng văn học bao giờ cũng có cơ sở triết học, nền tảng của nó, phải có điểm tựa về mặt triết học, học thuyết. Do vậy khi gọi tên như vậy là không chính xác về mặt khoa học, học thuật. 

Thứ nữa là ở Việt Nam không có môi sinh cho hậu hiện đại, không có cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội cho nó. Bản chất của thơ hậu hiện đại là nói cái cần có, sẽ có chứ không phải nói cái đang có, đã có. Do vậy mà cái na ná giống nhau là về mặt ngôn ngữ thôi, chứ không thể về mặt tư tưởng, vì thế mà người ta nhầm và gọi nó là thơ hậu hiện đại. Tôi nghĩ rằng, ở Việt Nam sẽ không xuất hiện khuynh hướng thơ này vì những lí do tôi đã nói trên.

- Vậy nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên cho biết những cây viết trẻ, họ đã đi đúng đường chưa? Họ đang tồn tại ở những dạng thức nào?

Nhà phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên.
Nhà phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên.

+  Công việc của tôi hàng ngày là đọc rất nhiều, đặc biệt là thơ của các nhà thơ trẻ. Tôi chú ý đến một dạng thơ viết như nói, ngôn ngữ như văn xuôi, yếu tố giai điệu mờ nhạt. Tôi có cảm giác như họ viết rất vội, vốn sống chưa nhiều nhưng lại tham viết nhưng chưa tới. Thơ chính là phản ánh đời sống tinh thần, nội tâm của cá nhân đó, nhưng tôi thấy rằng, nhìn chung là thơ trẻ vẫn còn lặp lại, sáo mòn và cảm xúc chưa tới, tôi đang chờ đợi sự bứt phá, đổi mới. 

Một số cây bút vẫn đáp ứng được xu hướng thời đại, bắt nhịp đúng và phản ánh kịp thời những gì đang diễn ra ở hiện tại, ví dụ như vấn đề biển Đông, biên giới, Trường Sa, Hoàng Sa… Một số khác thì cố gắng tìm tòi, khai phá về mặt ngôn ngữ nhưng cũng chỉ ở mức thể nghiệm. 

Tôi thấy thế này, thơ mà chỉ có cảm xúc thì không đi đến đâu cả, thơ phải có tính tư tưởng. Đọc thơ nếu chỉ dừng lại ở cảm xúc mà không tìm thấy tính tư tưởng thì rõ ràng nó không lâu bền được. Mà hầu hết người viết trẻ lại nặng về mặt cảm xúc. 

Về mặt nội dung, hầu hết tập trung vào chủ đề tình yêu, đề cao cái tôi cá nhân, yếu tố dân tộc, đất nước mờ nhạt. So với các bậc tiền bối thì khoảng cách giữa họ với các bậc đàn anh thì còn xa lắm. Nói như vậy để biết rằng, kế thừa và phát huy truyền thống là không dễ, đòi hỏi các nhà thơ trẻ phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo không ngừng.

- Còn những nhà nghiên cứu khác, họ nghĩ thế nào về thơ trẻ? 

+ Những người bạn văn chương của tôi có rất nhiều ý kiến quan tâm, nếu họ với tư cách là lãnh đạo hội thì bao giờ họ cũng tin tưởng, động viên. Họ đặt niềm tin vào lớp trẻ - những người viết kế cận. Bao giờ cũng thế, truyền thống của người Việt mình là “cha truyền con nối”; “ tre già măng mọc”, nhà văn gạo cội luôn đặt niềm tin, hi vọng lớn vào thế hệ sau mình. 

Một số khác cùng nghiên cứu như tôi thì dè dặt hơn, chúng tôi nhìn vào những sáng tác của họ trong một thời gian với độ lùi khá dài để nghiền ngẫm, soi xét và đánh giá. Không thể đưa ra những nhận định chủ quan, cá nhân, phiến diện mà phải thực sự trung thực, khách quan. 

Tôi vẫn đặt niềm tin vào họ, dẫu chưa nhiều, chưa đủ lớn nhưng tin là có. Hi vọng họ dám bứt phá, khai mở những góc nhìn về đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam trong thời đại mới, phải đưa văn chương trong đó có thơ ca ra với bạn bè quốc tế. Làm được như vậy thì thế giới họ mới biết mình. Các nhà văn, nhà thơ trẻ cần dấn thân hơn nữa, bứt phá hơn nữa và sáng tạo không ngừng nghỉ.

- Nhìn vào những tác giả trẻ hiện nay, tôi có cảm nhận là họ cũng thực sự dám nhập cuộc, viết thẳng, thật vào những vấn đề xã hội đang quan tâm. Ông có đồng tình quan điểm này không?

+ Như tôi đã nói, tôi đọc rất nhiều các tập thơ của các tác giả trẻ, họ viết khá nhiều, khai thác các mảng miếng của xã hội với những phát hiện khá mới, phong phú. Tôi chú ý qua các cuộc thi khoảng 10 năm gần đây, người trẻ xuất hiện khá nhiều và dành những giải thưởng xứng đáng. Có những giải thưởng về các cuộc thi gần đây cho thấy một sự khởi sắc mới, họ đã tập trung vào các vấn đề xã hội, đặt ra những câu hỏi cho thời cuộc, trách nhiệm của người cầm bút.

- Văn chương có phải là sự lựa chọn đặc biệt cho người trẻ không, thưa ông?

+ Con người hiện đại là con người phân thân, họ có nhiều sự lựa chọn cho mình, từ người viết đến người thưởng thức. Văn chương chỉ là một sự lựa chọn thôi, không hẳn là đặc biệt. 

Trong đó, thơ ca cũng là một phần của cuộc sống, người viết trẻ họ có nhu cầu được giãi bày, được nói tiếng nói của mình. Đa phần đều bộc lộ những trải nghiệm, những tâm tư, tình cảm về đời sống, về xã hội, thời cuộc. 

Tuy vậy, để có thể khẳng định rằng, thơ ca nói riêng, văn chương nói chung trong thời buổi này đóng vai trò đặc biệt thì tôi cho rằng chưa tới, có chăng nó chỉ đóng góp một phần trong dòng chảy của xã hội thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà thôi.

- Một điều dễ nhận thấy ở ông chính là phê bình rất thẳng, thật. Nhưng nhiều lúc sự thẳng thắn ấy lại khiến người viết trẻ ngại ngần khi được góp ý?

+ Tôi vẫn có thói quen hỏi thẳng người được hỏi, rằng việc mình chê họ xem họ có thái độ như thế nào. Nếu họ sẵn sàng nghe tôi góp ý trung thực, thẳng thắn tôi sẽ nói. Còn không thì thôi. Tôi vẫn nghĩ rằng, nói thẳng nói thật những cái chưa hay mới là đáng quý. Còn khen một tác phẩm chưa tới tầm thì quá dễ mà chắc gì đối tượng được khen đã thấy thích. 

Rất nhiều người viết trẻ gửi tôi tác phẩm để nhờ phê bình nhưng không phải quyển nào tôi cũng làm. Với những quyển sách chẳng có gì để nói, tôi không có cảm hứng, mà đối tượng đưa sách không muốn mình nói thật thì tốt nhất là im lặng, chứ không thể khen cái chẳng đáng hoặc chẳng thích khen. Tôi hi vọng các bạn trẻ nhìn ra được vấn đề để viết hay hơn.

- Nhìn vào tương lai, với góc nhìn của một nhà phê bình văn học nghiêm khắc và thận trọng, ông nghĩ sao về đường đi của thơ trẻ?

+ Tôi vẫn luôn tin vào xu hướng thơ trẻ và những người viết trẻ, họ là thế hệ tiếp nối, kế cận và phát huy. Các nhà văn, nhà thơ trẻ tiếp cận với xã hội, với thế giới một cách nhanh nhẹn, thông minh và chắc chắn là có nhiều ý tưởng mới mẻ để viết. Có thể họ sẽ viết khác hơn, mới mẻ hơn so với các thế hệ trước song họ cần chín hơn về nghề, phải có nhiều trải nghiệm hơn về đời sống thì mới viết hay được.

- Xin trân trọng cảm ơn nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên về cuộc trò chuyện.

Vân Khánh (thực hiện)

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.